- Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo Huỳnh Quốc H, Huỳnh Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Huỳnh Quốc H, Huỳnh Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HS-ST Ngày:15/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Phước Hiệu
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Thu Thảo và bà Lê Thị Đông Nguyêt.
- Thư ký phiên tòa: bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yên – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/HSST-QĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:
Huỳnh Quốc H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 2002 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1979 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1980; có 01 em; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 24/6/2022, bị Công an TP Tuy Hoà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 21/7/2022, bị Công an Tp. T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản của người khác; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 17/10/2022 tại Phường C, TP Tuy Hoà.
Có mặt tại phiên toà.
Huỳnh Tấn P; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1994 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1970 và bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1972; có 01 em; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 21/7/2022, bị Công an TP Tuy Hoà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo đang cai nghiện ma tuý tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma tuý và trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên từ ngày 12/8/2022 đến ngày 11/02/2023.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
1/ Ông NBH1, sinh năm 1986; trú tại đường L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt
2/ Ông NBH2, sinh năm 1984; trú tại đường T, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt
3/ Ông NBH3, sinh năm 1976; trú tại đường N, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông NLQ1, sinh năm 1979; trú tại khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Có mặt
2/ Bà NLQ2, sinh năm 1948; trú tại thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Huỳnh Quốc H và Huỳnh Tấn P đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 21/7/2022 nhưng trong các ngày 11 và 15 tháng 8 năm 2022; trên địa bàn phường C và xã B, Tp. T; H và P tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 13h ngày 11/8/2022 H điều khiển xe mô tô biển số 78H6-5269 của cha H là NLQ1 đi trên đường để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà anh NBH1 ở đường L, phường C, Tp Tuy Hoà, H thấy 01 kệ dẫn xe vào nhà có giá trị 325.000 đồng để trước nhà, không có người trông coi nên đã lén lút lấy trộm kệ sắt trên rồi đem bán cho bà NLQ2 trú tại thôn L, xã B, Tp Tuy Hoà được 60.000 đồng để tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 17h ngày 11/8/2022, H điều khiển xe Mô tô biển số 78H6 52-69 đến nhà P rủ đi trộm cắp tài sản thì P đồng ý. P điều khiển xe Mô tô trên chở H đến trước nhà anh NBH2 ở thôn L, xã B, Tp. T, P dừng xe H xuống xe lén lút lấy trộm kệ sắt dẫn xe trị giá 375.000 đồng của nhà anh NBH2 sau đó P và H đem bán cho bà NLQ2 được 40.000 đồng tiêu sài cá nhân.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 10h ngày 15/8/2022 H điều khiển xe Mô tô biển số 78H6 52-69 đến nhà anh NBH3 ở 170 Nguyễn Hào Sự, Tp. T, lén lút lấy trộm kệ sắt dẫn xe sau đó P đem bán cho bà NLQ2 được 40.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu giải quyết, bà NLQ2 không yêu cầu các bị cáo bồi hoàn.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa thực hành quyền công tố tại toà luận tội và đề nghị giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị H đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc H và Huỳnh Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 173, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc H từ 06 tháng đến 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P từ 03 tháng đến 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 11/8/2022 H điều khiển xe mô tô biển số 78H6-5269 của cha H là ông NLQ1 đi trên các tuyến đường trên địa bản thành phố Tuy Hoà để tìm tài sản trộm cắp Khi đi ngang qua nhà anh NBH1, H lấy 01 kệ dẫn xe vào nhà của anh NBH1 có giá trị 325.000 đồng đem bán cho bà NLQ2 được 60.000 đồng số để tiêu xài cá nhân. Ngày 11/8/2022 H điều khiển xe Mô tô biển số 78H6 52-69 đến nhà P rủ đi trộm cắp tài sản đến trước nhà anh NBH2 lén lút lấy trộm Kệ sắt dẫn xe trị giá 375.000 đồng của nhà anh NBH2 sau đó P và H đem bán cho bà NLQ2 được 40.000 đồng và ngày 15/8/2022 H điều khiển xe Mô tô biển số 78H6 52-69 đến nhà anh NBH3 lén lút lấy trộm kệ sắt dẫn xe sau đó đem bán cho bà NLQ2 được 40.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Do đó, hành vi của bị cáo H, P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi của các bị cáo gây ra; các bị cáo H, P có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra các bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần thiết phải cách ly bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại do vậy cẩn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật an tâm cải tạo.
Đối với bà NLQ2 là người mua sắt phế liệu khi mua tài sản trộm cắp của các bị cáo nhưng không biết tài sản trên là do các bị cáo phạm tội mà có nên không xem xét tránh nhiệm hình sự của bà NLQ2 là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Không xét
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại người có quyền lơi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: các bị cáo Huỳnh Quốc H, Huỳnh Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Quốc H 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Không xét
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Huỳnh Quốc H, Huỳnh Tấn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - VKSND thành phố Tuy Hòa; - Công an thành phố Tuy Hòa; - Bị cáo; - UBND phường C; - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Phước Hiệu |