- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chung Gia H phạm tội MBTPCMT, Phạm Văn T và Đỗ Quốc H phạm tội TTTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chung Gia H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” ; Bị cáo Phạm Văn T, Đỗ Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------- Bản án số: 33 /2023/HS-ST Ngày 22 tháng 02 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Phƣơng Mai
2. Ông Nguyễn Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Quách Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Chung Gia H - Sinh năm 1968; ĐKHKTT tại: phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hán; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Chung Quốc D và bà Trần Thị L (đều đã chết);
Nhân thân: 02 tiền sự (ngoài thời hiệu); 03 tiền án (đã xóa án tích);
- Từ năm 1987 đến năm 2007, bị xử phạt hành chính 02 lần về các hành vi cố ý gây thương tích và trộm cắp tài sản;
- Ngày 12 đến ngày14/11/1998, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/1997 (Bản án số 1677/HSST ngày 12, 13 và 14/11/1998 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và 1022/HSPT ngày 15/6/1999 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao). Buộc bị cáo H phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 81.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm và phải bồi thưởng cho các bị hại số tiền chiếm đoạt theo kỷ phần. Căn cứ biên bản xác minh thi hành án ngày 15/12/2022 tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội và 16/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm xác định: Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định đỉnh chỉ số 171 ngày 22/11/2010, khoản tiền án phí HSST 50.000 đồng và tiền án phí DSST 81.500 đồng của H theo quyết định miễn số 242 ngày 07/9/2010 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm; Khoản theo đơn: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật tính đến thời điểm xác minh người được thi hành án không có đơn yêu cầu đối với khoản bồi thường dân sự. Do vậy, không có căn cứ để cung cấp việc thi hành án của Chung Gia H (Đã xóa án tích);
- Ngày 20/9/2001, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số hình sự số 683/HSST ngày 20/9/2001 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội). Phạt tiền 5.000.000 đồng. Căn cứ biên bản xác minh thi hành án ngày 16/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm xác định: Chu Gia H đã nộp 50.000 đồng án phí HSST và 60.000 đồng tiền phạt theo biên lai thu số 28728 ngày 28/4/2011; Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định đình chỉ số 43 ngày 01/7/2014 khoản tiền phạt 4.940.000 đồng theo Quyết định miễn số 13 ngày 11/6/2014 (Đã xóa án tích);
- Ngày 28/4/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2011/HSST ngày 28/4/2011 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm). Căn cứ biên bản xác minh thi hành án ngày 17/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm xác định: Chung Gia H đã nộp 200.000 đồng án phí HSST theo biên lai thu số 5092 ngày 12/9/2012 (Đã xóa án tích);
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 25/8/2022; Tạm giam ngày 01/9/2022 (Số giam: 4069B2/2); hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa
2. Đỗ Quốc H - Sinh năm 1959; ĐKHKTT tại: phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Quang V và bà Dương Kim D (đều đã chết);
- Nhân thân: 01 tiền sự (Ngày 22/6/2012, bị Công an quận Long Biên xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy);
- Tiền án: Ngày 11/5/1999, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 624/HSST ngày 11/5/1999). Căn cứ biên bản xác minh thi hành án ngày 30/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng xác định: Đỗ Quốc H chưa nộp án phí HSST và tiền phạt (chưa được xóa án tích);
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 25/8/2022; Tạm giam ngày 01/9/2022 (Số giam: 4041B2/21); hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa;
3. Phạm Văn T - Sinh năm 1966; ĐKHKTT tại: phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: Không có nơi cư trú cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn T và bà Đào Thị T (đều đã chết); Có vợ là Hoàng Tuyết Mai và 01 con sinh năm 1995;
- Tiền án: Ngày 26/5/2020, bị Tòa án nhân dân Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2020/HSST ngày 26/5/2020);
- Nhân thân: Có 04 tiền sự; 05 tiền án;
+ Từ năm 1985 đến năm 2014 có 04 tiền sự bị xử phạt hành chính về các hành vì trộm cắp taì sản của công dân, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và đi cai nghiện bắt buộc;
+ Ngày 25/9/1992, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thách 12 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 390/HSPT và bản án 325/HSST của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm).
+ Ngày 21/8/1996, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 410/HSPT và bản án 244/HSST của Tòa án nhân dân quận Đống Đa).
+ Ngày 14/10/1997, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 1277/HSST).
+ Ngày 28/6/2001, bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 149/HSST).
+ Ngày 29/7/2010, bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 59/2010/HSST). Căn cứ biên bản xác minh thi hành án ngày 19/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ xác định: Phạm Văn T đã nộp án phí HSST theo biên lai thu tiền số 00025 ngày 29/7/2010;
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 25/8/2022; Tạm giam ngày 01/9/2022 (Số giam: 4044B2/6); hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 ngày 25/8/2022, Tổ công tác Công an phường Đồng Xuân trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Vũ Quang B (Sinh năm: 1967; Trú tại: phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda WaveS màu đỏ, BKS: 29S2-1236, chở Phạm Văn T tại khu vực cầu Chương Dương, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện lấy từ túi quần bên trái ra 01 gói giấy màu đỏ, bên trong có 01 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng. T khai chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine vừa mua của 01 đối tượng tên H ở số 8 Nguyễn Thiện Thuật, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội về để sử dụng. Kiểm tra Vũ Quang B và xe máy không phát hiện gì liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa Phạm Văn T, Vũ Quang B cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Cơ quan Công an để làm rõ.
Tạm giữ của Phạm Văn T: 01 gói giấy màu đỏ bên trong có 01 gói giấy màu vàng kích thước khoảng 1x1 cm bên trong chứa chất bột màu trắng. (BL 28)
Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an phường Đồng Xuân trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Đỗ Quốc H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 29M7-3772 tại khu vực trước số 22 Hàng Mã, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H tự nguyện lấy từ túi quần bên trái ra 01 gói giấy màu đỏ, bên trong có 01 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng. H khai chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine vừa mua của 01 đối tượng tên Chung Gia H ở số 8 Nguyễn Thiện Thuật, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội về để sử dụng.
Tạm giữ của Đỗ Quốc H: 01 gói giấy màu vàng kích thước 1x1 cm, bên trong có chứa chất bột màu hồng được bọc trong một lớp nilong màu đỏ; 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen kèm sim, máy cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, BKS 29M7-3772 có số máy: C100ME; số khung: 8211441 (xe cũ đã qua sử dụng).
Căn cứ lời khai của Phạm Văn T và Đỗ Quốc H, Cơ quan điều tra dẫn giải T và Đỗ Quốc H đến địa điểm mua ma túy, cho T và Quốc H nhận dạng đối tượng đã bán ma túy cho T và Quốc H, xác định đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Văn T và Đỗ Quốc H là Chung Gia H.
Tại thời điểm khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chung Gia H có Chung Gia H ở tại nhà. Quá trình khám xét, Chung Gia H tự nguyện lấy từ túi quần bên phải 01 túi nilông màu trắng bên trong có 02 gói nilông màu đỏ chứa chất bột màu trắng và 400.000 đồng giao nộp và khai nhận số chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine dùng để bán lại kiếm lời và 400.000 đồng là số tiền vừa bán ma túy cho T và Đỗ Quốc H mà có. Ngoài ra, khám xét chỗ ở của H không thu giữ đồ vật, tài liệu khác liên quan đến ma túy.
Tạm giữ của Chung Gia H: 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 5x10 cm bên trong có chứa 02 túi nilong màu đỏ kích thước 0,5x2 cm bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại: Nokia màu đen có kèm sim; 400.000 đồng (BL 220)
Tại bản kết luận giám định số: 6008/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội đối với số tang vật thu giữ của Phạm Văn T kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng (được bọc ngoài bằng nilông màu đỏ) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,179 gam (BL 34)
Tại bản kết luận giám định số: 6016/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội đối với số tang vật thu giữ của Đỗ Quốc H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng (được bọc ngoài bằng nilông màu đỏ) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,255 gam (BL 143)
Tại bản kết luận giám định số: 6015/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội đối với số tang vật thu giữ của Chung Gia H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilông màu đỏ (để trong 01 túi nilông màu trắng) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,268 gam (BL 226)
Tại Cơ quan điều tra, Chung Gia H khai: Khoảng 04 giờ ngày 25/8/2022, Chung Gia H đến khu vực gầm cầu Long Biên, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội gặp 01 người đàn ông khoảng 70 tuổi tên “Lương” mua 01 túi nilông bên trong chứa 04 túi nilông màu đỏ chứa ma túy loại Heroine với giá 720.000 đồng mục đích để bán lại kiếm lời.
Khoảng từ 11 giờ đến 12 giờ ngày 25/8/2022 tại số 8 Nguyễn Thiện Thuật, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, H gặp, bán ma túy Heroine cho T và Đỗ Quốc H. Mỗi đối tượng mua của H 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng/1 gói. Nếu bán thành công toàn bộ số ma túy H sẽ được hưởng lợi 80.000 đồng.
Như vậy, tổng số ma túy Chung Gia H dùng để bán trái phép là 0,702 gam ma túy loại Heroine (Gồm: 02 gói ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,268 gam thu giữ trên người H; 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,179 gam bán cho T; 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,255 gam bán cho Đỗ Quốc H).
Phạm Văn T và Đỗ Quốc H khai nhận phù hợp lời khai của Chung Gia H. Khi T, Đỗ Quốc H đang tìm chỗ để sử dụng ma túy mua của H thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên.
Anh Vũ Quang B khai: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/8/2022, anh Báu đang làm xe ôm tại khu vực phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội thì được Phạm Văn T nhờ chở đến số 8 Nguyễn Thiện Thuật, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Khi đến số 8 Nguyễn Thiện Thuật, T xuống xe đi bộ một mình vào trong ngõ một lúc rồi đi ra. Khi anh Báu chở T đến khu vực cầu Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì bị dừng xe kiểm tra như đã nêu trên. Anh B không biết, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 29M7-3772, số máy: 8211441, số khung: 8211441 thu giữ của Đỗ Quốc H. H khai mượn của chị Đỗ Thu H (Sinh năm 1992; Trú tại: phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai, Hà Nội; Con gái của H), Cơ điều tra đã tiến hành tra cứu, xác minh xác định chiếc xe máy trên quan không nằm trong dữ liệu xe máy tang vật. Chủ đăng ký xe mang tên ông Nguyễn Văn H (Sinh năm 1958; Trú tại: xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, Ông Nguyễn Văn H khai: Vào năm 2001, ông H có mua chiếc xe trên. Đến năm 2010, ông H bán lại chiếc xe trên cho chị Đỗ Thu H. Chị H không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Cơ quan điều tra đã trả lại chị Hương chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 29M7-3772, chị Hương đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Về 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, BKS: 29S2-1236, số máy: RLHJC4310BY192421, số khung: JC43E-1757498 thu giữ của Vũ Quang B là tài sản của anh B. Anh B không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Cơ quan điều tra đã trả lại anh B chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, BKS: 29S2-1236, anh B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Về đối tượng tên “Lương” bán ma túy cho Chung Gia H do H không biết họ tên, tuổi đầy đủ, địa chỉ và số điện thoại. Việc mua bán ma túy trực tiếp, không có ai chứng kiến. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải H đi chỉ người bán ma túy và rà soát Camera, nhân chứng xác minh, nhưng không xác định được là ai. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Chung Gia H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Phạm Văn T, Đỗ Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Chung Gia H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc H và Phạm Văn T mỗi bị cáo từ 22 tháng đến 26 tháng tù;
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ được + 02 sim điện thoại; Tịch thu sung công số tiền 400.000 đồng + 02 điện thoại thu giữ của Chung Gia H và Đỗ Quốc H; Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.
Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng từ 11 giờ đến 12 giờ ngày 25/8/2022 tại số 8 Nguyễn Thiện Thuật, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, bị cáo Chung Gia H đã có hành vi hai lần bán trái phép chất ma túy gồm: bán 0,179 gam ma túy loại Heroine cho Phạm Văn T và bán 0,255 gam ma túy loại Heroine cho Đỗ Quốc H. Ngoài ra, trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở, Chung Gia H còn tàng trữ 0,268 gam ma túy loại Heroine mục đích để bán trái phép cho người khác. Như vậy, tổng số ma túy Chung Gia H đùng để bán trái phép là 0,702 gam ma túy loại Heroine. Bị cáo Phạm Văn T và bị cáo Đỗ Quốc H trong khi đang tìm chỗ sử dụng ma túy mua của Chung Gia H thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại khu vực cầu Chương Dương, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội và số 22 Hàng Mã, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Hành vi của bị cáo Chung Gia H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo Phạm Văn T và Đỗ Quốc H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Đồng thời, ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới HIV/AIDS. Các Bị cáo đều nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhân thân các bị cáo đều rất xấu, nhiều tiền án, tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học, tiếp tục phạm tội mới thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo một hình phạt tù nghiêm khắc cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
Xét các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định nên Tòa không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đỗ Quốc H có 01 tiền án ngày 11/5/1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; Bị cáo Phạm Văn T có 01 tiền án ngày 26/5/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của các bị cáo Đỗ Quốc H, Phạm Văn T thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã khai báo thành khẩn nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về các biện pháp tư pháp: Xét thấy, đối với số ma túy thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành + 02 sim điện thoại cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 điện thoại Nokia đã cũ thu giữ của bị cáo Chung Gia H và Đỗ Quốc H, xét có liên quan đến hành vi phạm tội và số tiền 400.000 đồng Chung Gia H thu lời từ việc bán ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chung Gia H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” ; Bị cáo Phạm Văn T, Đỗ Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Chung Gia H 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang 25/8/2022.
3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang 25/8/2022.
4. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang 25/8/2022.
5. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
* Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Phạm Văn T, Giám định viên Nguyễn Thanh Bình, cán bộ Nguyễn Bá Đạt, người liên quan Vũ Quang Báu cùng hình dấu đỏ của Cơ quan công an. Bên trong phong bì chứa 01 gói giấy màu vàng kích thước khoảng (1x1) cm được bọc ngoài bằng nilon màu đỏ chứa 0,179 gam ma túy loại Heroine (PC09 – CATP Hà Nội trích mẫu giám định 0,026 gam còn lại 0,153 gam ma túy Heroin).
(Theo Kết luận giám định số 6008/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội và các biên bản niêm phong vật chứng ngày 25/8/2022).
+ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Đỗ Quốc H, Giám định viên Nguyễn Thanh Bình, cán bộ Nguyễn Văn Nhì, người chứng kiến Trần Đăng Hải, cùng hình dấu đỏ của Cơ quan công an. Bên trong phong bì chứa giấy màu vàng kích thước khoảng (1x1) cm được bọc ngoài bằng nilon màu đỏ chứa 0,255 gam ma túy loại Heroine (PC09 – CATP Hà Nội trích mẫu giám định 0,016 gam còn lại 0,239 gam ma túy Heroin).
(Theo Kết luận giám định số 6016/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội và các biên bản niêm phong vật chứng ngày 25/8/2022).
+ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Chung Gia H, Giám định viên Nguyễn Thanh Bình, cán bộ Hà Minh Hải, người chứng kiến Đặng Thị Loan, hình dấu đỏ của Cơ quan công an. Bên trong phong bì có 01 túi ni lông trắng kích thước (5x10) cm bên trong có 02 túi ni lông màu đỏ kích thước (0,5x2) cm chứa ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,268 gam (PC09-CATP Hà Nội trích mẫu giám định 0,017 gam, còn lại 0,251 gam ma túy loại Heroin);
(Theo Kết luận giám định số 6015/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội và các biên bản niêm phong vật chứng ngày 25/8/2022).
+ 02 sim điện thoại đã qua sử dụng, chất lượng hiện trạng không rõ, không rõ số thuê bao do nhà mạng đã khóa;
* Tịch thu sung công:
+ Số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia màu đen, có số imei ngoài máy: imei 1: 358980094860393, imei 2: 358980099860368 máy đã cũ, đã qua sử dụng, tại thời điểm bàn giao không mở máy được để kiểm tra nên không rõ chất lượng, tình trạng và xuất sứ.
+ 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Nokia màu đen, máy đã cũ, đã qua sử dụng, tại thời điểm bàn giao không mở máy được để kiểm tra nên không rõ chất lượng, tình trạng và xuất sứ.
Số vật chứng, tiền trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm và tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm tại Kho bạc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/02/2023 và Giấy nộp tiền ngày 22/02/2023.
6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Chung Gia H; Đỗ Quốc H; Phạm Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Công an quận Hoàn Kiếm; - Chi cục THA DS quận Hoàn Kiếm; - Các bị cáo; - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thắng |