vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/06/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày 26-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoài Sơn

Bà Nguyễn Hoàng Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Nghiêm Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 09 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q- Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/06/1985, tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1965 và bà Phan Thị L, sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Bản án số 07/2011/HSST ngày 28/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Tiền sự: Quyết định số 05/QĐ-XPVPHC ngày 25 tháng 7 năm 2022 bị Công an xã Yên Thái, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Nhân thân: Quyết định số 44/QĐ ngày 03/8/2009 bị Công an huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; quyết định số 142/QĐ-UBND ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái về việc đưa người nghiện ma túy vào trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Yên Bái; bản án số: 42/2017/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/06/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị L, sinh năm 1966. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 06/6/2023 Nguyễn Văn Q trú tại Thôn T, xã Y, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái điều khiển xe mô tô BKS 52T1-4640 đi từ nhà lên khu vực đường vào trại cá thuộc thôn C, xã M, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi và mua của người này 02 gói ma túy loại Heroine với giá 400.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua xong Q cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày khi đi đến khu vực gác chắn đường sắt thuộc khu vực tổ 11, thị trấn Mậu A thì bị Công an huyện Văn Yên phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại nền đường gần vị trí Q đang đứng 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kiểm tra bên trong mỗi gói đều có chất bột nén màu trắng ( khai nhận đều là ma túy loại Heroine). Ngoài ra, còn thu giữ của Q 01 điện thoại di động, trên điện thoại có dòng chữ “VERTU”, màn hình màu, bàn phím nổi, vỏ máy màu đen vàng, máy cũ đã qua sử dụng, 01 xe mô tô BKS 52T1-4640, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe JUPITER vỏ xe màu xám, xe cũ đã qua sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Q tại Thôn T, xã Y, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Tại bản Kết luận giám định số 318/KL-KTHS, ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái đã kết luận:

“- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn Qcó tổng khối lượng là 0,36 gam”.

“0,08 gam trích từ 0,36 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine”.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS-VYngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai báo thành khẩn, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như bản cáo trạng của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là đúng.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L trình bày: Chiếc xe máy cơ quan công an thu giữ khi bắt Nguyễn Văn Q là xe máy của bà. Khi Q lấy xe đi mua bán ma túy bà không biết, bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy để bà lấy phương tiện đi lại.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, do bị cáo là đối tượng nghiện, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,28 gam ma túy còn lại sau khi giám định, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động trên điện thoại có dòng chữ “VERTU”, màn hình màu, bàn phím nổi, vỏ máy màu đen vàng, máy cũ đã qua sử dụng; trả lại cho bà Phan Thị L 01 xe máy BKS 52T1-4640 nhãn hiệu YAMAHA, loại xe JUPITER vỏ xe màu xám, xe cũ đã qua sử dụng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Văn Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Lời nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định, các biên bản hoạt động điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 06/06/2023, tại khu vực tổ dân phố số 11, thị trấn Mậu A, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái bị cáo Nguyễn Văn Qđã có hành vi tàng trữ trái phép 0,36 gam ma túy loại Heroine. Xét bị cáo Nguyễn Văn Q có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm lưu hành, có tác hại lớn đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, nhưng để thoả mãn cơn nghiện bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến tình hình trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, bị coi là tội phạm, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Về tình tiết tăng nặng: Bản án số 07/2011/HSST ngày 28/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; bị cáo chưa chấp hành xong phần trách nhiệm bồi thường dân sự, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần xem xét cho bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, là người có nhân thân xấu, tại quyết định số 44/QĐ ngày 03/8/2009 bị Công an huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; quyết định số 142/QĐ-UBND ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái về việc đưa người nghiện ma túy vào trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Yên Bái; bản án số: 42/2017/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái về tội “Trộm cắp tài sản”; Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xóa tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các đối tượng khác: Nguyễn Văn Q khai nhận nguồn gốc ma túy là do bị cáo mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực thôn C, xã M, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Công an huyện Văn Yên đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được nhân thân, lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này là phù hợp.

Về vật chứng:

- 0,28 gam Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành là vật cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu huỷ.

- 01 điện thoại di động, trên điện thoại có dòng chữ “VERTU”, màn hình màu, bàn phím nổi, vỏ máy màu đen vàng, máy cũ đã qua sử dụng xác định không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.

- 01 xe mô tô BKS 52T1-4640, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe JUPITER vỏ xe màu xám, xe cũ đã qua sử dụng quá trình điều tra xác định được là tài sản của bà Phan Thị L mẹ đẻ của bị cáo. Khi bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy bà L không biết nên cần trả lại cho bà L là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/06/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu huỷ 0,28 gam ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành;

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động, trên điện thoại có dòng chữ “VERTU”, màn hình màu, bàn phím nổi, vỏ máy màu đen vàng, máy cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bà Phan Thị Loan 01 xe mô tô BKS 52T1-4640 nhãn hiệu YAMAHA, loại xe JUPITER vỏ xe màu xám, xe cũ đã qua sử dụng.

(Đặc điểm chi tiết toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ