vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Anh D phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Anh D 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Đình Anh D phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Anh D phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS - ST
Ngày: 27/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Chương

Các Hội thẩm nhân dân :

Bà Nguyễn Thị Thắm

Bà Nguyễn Thị Phương Lan

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện

Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Đại diện VKSND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLST - HS ngày 13/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST - HS ngày 15/03/2023 đối với bị cáo: NGUYỄN ĐÌNH ANH D, sinh năm 1996; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã B, huyện C, tỉnh G; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình H, con bà Lê Thị L; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Danh, chỉ bản số 41 lập ngày 29/12/2022 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/12/2022, Nguyễn Đình Anh D thuê xe ôm của người không quen biết đi từ công viên Y, quận H, Hà Nội đến gần chung cư H, xã T, huyện T, Hà Nội. Tại đây, D bảo người xe ôm đứng chờ còn D đi bộ tiếp khoảng 15m thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 700.000 đồng đề sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy D cầm túi ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi ra bảo người xe ôm tiếp tục chở đến khách sạn O, khi đến gần khách sạn D xuống xe đi bộ vào khách sạn để thuê phòng sử dụng ma túy. Hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/12/2022, tổ công tác Công an thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại đường C, thuộc thị trấn V, huyện T, Hà Nội phát hiện Nguyễn Đình Anh D đang đi bộ vào nhà nghỉ O có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, tại chỗ D tự nguyện giao nộp 01 túi nilon bên trong chứa tỉnh thể màu trắng và khai nhận tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy đá, D mua về để sử dụng nên tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa D về trụ sở làm việc. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Đình Anh D thể hiện D dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Ngày 20/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với túi ma túy thu giữ của Nguyễn Đình Anh D khi bắt quả tang. Tại bản Kết luận giám định số 8712 ngày 29/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,693 gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,031 gam ma túy Methamphetamine trong tổng số 0,693 gam ma túy Methamphetamine để làm mẫu giám định, còn lại 0,662 gam ma túy Methamphetamine hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình Anh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T thu thập được. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D vào ngày 20/12/2022, do D không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Bản cáo trạng số 28/CT - VKS - TT ngày 09/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Đình Anh D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Nguyễn Đình Anh D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như D đã khai trong quá trình điều tra. Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Khi được nói lời sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Anh D từ 20 đến 22 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử cho tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau khi giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo và việc truy tố của Viện kiểm sát:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 20/12/2022, tại đường C, thuộc thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội, khi Nguyễn Đình Anh D đang tàng trữ trái phép 0,693 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội bắt quả tang thu giữ tang vật.

Hành vi của Nguyễn Đình Anh D đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng là có căn cứ pháp lý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự trị an xã hội cần phải nghiêm trị, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung đối bị cáo:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản».

Xét bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý các vật chứng đã thu giữ trong vụ án: Đối với khối lượng ma túy 0,662 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo (trọng lượng còn lại sau khi giám định) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về những vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông bán ma túy cho D, do D khai không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo bản án theo các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Anh D phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Anh D 20 (hai mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,662 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo (trọng lượng còn lại sau khi giám định) hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/03/2023.

4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ