vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Sùng Bua L 01 năm 08 tháng tù. Xử phạt bị cáo Vừ Bả D4 01 năm 06 tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Bua Lệnh + ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự tuyên bố các
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 33/2023/HS - ST
Ngày 20 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Cương.

2. Ông Lê Văn Quân.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2023/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Sùng Bua L - Sinh năm 1974; Nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Sùng Sống D (đã chết) và bà Vừ Thị D1 (đã chết); Bị cáo có vợ là Giàng Thị D2 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2001); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 30/8/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vừ Bả D4 - Sinh năm 1973; Nơi cư trú: Bản P1, xã P, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Vừ Dạ P1 (đã chết) và bà Giàng Thị K1 (đã chết); Bị cáo có vợ là Sùng Thị D5 và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2000); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 30/8/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút, ngày 30/8/2023 tổ công tác Công an xã P, huyện S làm nhiệm vụ tại bản P1, xã P, huyện S phát hiện Sùng Bua L và Vừ Bả D4 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay trái của L có một gói nilon bên trong chứa chất bột màu hồng (L và D4 khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 31/8/2023 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: Số bột màu hồng có khối lượng là 0,16 gam đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu D.

Tại bản kết luận giám định số 2104/KL ngày 01/9/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,16 gam; loại Methamphetamine.”

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 30/8/2023 L đem theo số tiền 20.000 đồng đi bộ từ nhà đến bản P1, xã P để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến bản P1, L vào nhà Vừ Bả D4 và rủ D4 rủ góp tiền đi mua ma tuý về sử dụng thì D4 đồng ý, đồng thời đưa cho L số tiền 20.000 đồng. Sau đó, L và D4 đi bộ trên đường đi thuộc bản P1, xã P thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái (không rõ danh tính), L hỏi mua được của người này một gói bột Hồng phiến được gói trong mảnh nilon với số tiền 40.000 đồng. Mua được ma tuý, L cầm trong lòng bàn tay trái rồi cùng D4 đi bộ về nhà để cùng nhau sử dụng, khi đang trên đường về thì gặp tổ công tác Công an xã P, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 211/CT-VKSSM ngày 07 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Sùng Bua L, Vừ Bả D4 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Sùng Bua L, Vừ Bả D4 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Sùng Bua L từ 01 năm 08 tháng - 02 năm tù; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Vừ Bả D4 từ 01 năm 06 tháng - 01 năm 10 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: số ma túy đã được sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 14 giờ 10 phút, ngày 30/8/2023 đối với Sùng Bua L và Vừ Bả D4 cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói chất bột liên liên kết màu hồng; Kết luận giám định số 2104/KL ngày 01/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,16 gam, loại Methamphetamine”.

- Lời khai của các bị cáo về việc đã thường xuyên sử dụng ma tuý nên ngày 30/8/2023 đã cùng nhau góp tiền mua được một gói chất bột hồng phiến của một người đàn ông không quen biết với số tiền là 40.000đ mục đích mang để sử dụng, khi đang cất giấu thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Lời khai nhận tội của các bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố các bị cáo Sùng Bua L, Vừ Bả D4 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/8/2023 khi các bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,16 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi các bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo L là người rủ rê, khởi sướng đồng thời là người trực tiếp trao đổi mua bán ma túy nên giữ vai trò chính, bị cáo D4 góp một nửa tiền và cùng bị cáo L đi tìm mua ma túy nên giữ vai trò là đồng phạm giúp sức.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Về người đàn ông các bị cáo khai là người đã bán ma túy các bị cáo đều khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Sùng Bua L, Vừ Bả D4 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Sùng Bua L 01 năm 08 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Vừ Bả D4 01 năm 06 tháng tù.

Thời hạn tù đối với các bị cáo tính từ ngày 30/8/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 064589.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 201/QĐ – VKS ngày 07/11/2023 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/11/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Sùng Bua L, Vừ Bả D4.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/11/2023).

Cỡ chữ