- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33 /2023/HS-ST. Ngày: 17 - 4 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.
Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Khắc Thái và ông Nguyễn Văn Phiếu.
- Thư ký phiên toà: ông Bùi Ngọc Tạo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: ông Đào Sỹ Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2023/HSST ngày 21/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST- HS ngày 03/4/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C sinh năm: 1993, tại Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông: Nguyễn Xuân T; con bà: Đinh Thị N; vợ: Nguyễn Thị L, có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/12/2022 đến ngày 15/12/2022, chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.
*Người làm chứng: anh Nguyễn Tùng L và anh Đinh Văn T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 06/12/2022, để có ma túy sử dụng cho bản thân, C đi nhờ xe máy của người đi đường không quen biết đến xã G, huyện G để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực đường đê thuộc xã G, huyện G, tại đây C nhìn thấy 01 người nam giới không quen biết đứng bên đường trông giống người nghiện ma túy, C lại gần hỏi mua của người này 200.000 đồng ma túy, người nam giới đồng ý bán. C lấy từ túi quần phía sau bên phải đưa cho người nam giới 200.000 đồng, người nam giới cầm tiền rồi đưa lại cho C 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. C cầm lấy và mở ra kiểm tra thấy bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, xác định đúng là ma túy loại Heroin nên gói lại và cất giấu trong túi quần phía trước bên phải. Sau đó C lại tiếp tục đi nhờ xe của người đi đường không quen biết về nhà. Về đến nhà, C lấy gói ma túy đi vào phòng khách để chuẩn bị sử dụng, thì thấy Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Đ đến nhà C kiểm tra. Biết việc cất giấu trái phép chất ma túy không thể che giấu được nên C đã tự giác giao nộp 01 gói ma túy từ trên tay phải cho Tổ công tác. Tại chỗ Tổ công tác kiểm tra thấy đó là 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong 01 gói nhỏ có đặc điểm như trên mà C giao nộp theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 864/KL-KTHS-MT ngày 13/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1368 gam là ma túy, loại Heroine (Heroin)
Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, có số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSNQ-HS ngày 17/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ của vụ án, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn C từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/12/2022.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận: bị cáo là người nghiện ma túy, khoảng 17 giờ ngày 06/12/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đã đi nhờ xe của người đi đường, sang xã G, huyện G để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực đường đê thuộc xã G, huyện G, bị cáo đã gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 200.000 đồng, được 01 gói ma túy gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Bị cáo mở ra kiểm tra thấy bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, xác định đúng là Heroine nên gói lại bỏ vào túi quần bên phải và nhờ xe đi về nhà. Khi bị cáo đang định sử dụng ma túy tại phòng khách của gia đình, thì lực lượng Công an vào kiểm tra, bị cáo đã tự giác giao nộp gói Heroine và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai người làm chứng; bản kết luận giám định; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,1368 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân ngày 06/12/2022, của Nguyễn Văn C đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
.......................................................
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………………………….”.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những vi phạm vào chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về việc cất giữ, trao đổi chất ma tuý, mà còn là một trong các nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh, lây lan tệ nạn nghiện ma tuý. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song vì muốn thỏa mãn ý thích cá nhân, bị cáo vẫn cố tình mua ma túy để sử dụng dẫn đến phạm tội. Do đó, cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Như vậy, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu, tiêu hủy: 0,0888 gam còn lại sau trích gửi giám định trong mẫu M là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 864/KL-KTHS-MT ngày 13/12/2022 theo quy định của pháp luật.
[5] Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn C khai mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ tên, địa chỉ, tại khu vực đê xã G, huyện G. Do đó, không có cơ sở để điều tra làm rõ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn C 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 0,0888 gam còn lại sau trích gửi giám định trong mẫu M là ma túy loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 864/KL-KTHS-MT ngày 13/12/2022 theo quy định của pháp luật.
Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N lập ngày 21/3/2023.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (17/4/2023).
Truờng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND H. NQ; - CA H. NQ; - Chi cục THADS H. NQ; - Sở Tư pháp NB; - Bị cáo; - Lưu. | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Quang Chung |