vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám)tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2023. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM
ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày 28 -7- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Thu Hương;

Ông Nguyễn Văn Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh–Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện N.

- Đại diện VKS nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Là-Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện N, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm Th, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1949 (đã chết); con bà Phạm Thị B, sinh năm 1952; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Chị Linh Thị H, sinh năm 1990; có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017;

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/6/2023 đến ngày 07/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 01/6/2023, tổ công tác Công an huyện N đang làm nhiệm vụ tuần tra tại đường quốc lộ 21 cũ, khu vực dốc chợ Đê thuộc thôn Thượng Phú, xã Nam Hồng, huyện N, tỉnh Nam Định đã phát hiện bị cáo Nguyễn Văn T có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu cho kiểm tra hành chính về người. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải T đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận đó là Heroine mua về để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Tổ công tác Công an huyện N mời người chứng kiến, niêm phong vật chứng thu giữ (ký hiệu M) và đưa bị cáo về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nam Hồng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu.

Tại Bản kết luận giám định số 812/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng, trong phong bì thư được niêm phong (ký hiệu M) gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng: 0,192 gam.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N T đã khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 01/6/2023, bị cáo đi nhờ xe từ nhà đến khu vực bến đò Nam Thanh thuộc địa phận thôn Duyên Giang, xã Nam Thanh, huyện N, tỉnh Nam Định với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine, gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. Khi nhận gói Heroin bị cáo đem cất giấu vào túi quần bên phải, đến khoảng 15 giờ cùng ngày bị cáo đi bộ đến khu vực chợ Đê thuộc địa phận thôn Thượng Phú, xã Nam Hồng, huyện N tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện N phát hiện và bắt giữ như trên.

Cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù;

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng được niêm phong trong 01 phong bì thư số: 812/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định;

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có hoàn cảnh khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang ngày 01 tháng 6 năm 2023, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định số: 812/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 01/6/2023, tại đường quốc lộ 21 cũ, khu vực dốc chợ Đê thuộc thôn Thượng Phú, xã Nam Hồng, huyện N, tỉnh Nam Định, tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang bị cáo đang cất giấu trái phép trong người 01 gói Heroin, có khối lượng 0,192 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện thu giữ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an T xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và sự phát triển chung của xã hội, là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố ý mua về sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, là thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thâncủa bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo riêng và răn đe phòng ngừa chung, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, mua ma túy về để sử dụng nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ngày 01/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo được niêm phong trong 01 phong bì thư số: 812/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định ghi hoàn trả sau giám định là chất cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám)tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy T bộ số ma túy thu giữ của bị cáo trong 01 phong bì thư số: 812/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định ghi hoàn trả sau giám định (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2023 giữa cơ quan Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Tphải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- Toà án nhân dân tỉnh;

- VKS nhân dân huyện N;

- Công an huyện N;

- Nhà tạm giữ, CA huyện N;

- Chi cục THADS huyện N;

- UBND xã N;

- Lưu hồ sơ + VP.

Nguyễn Thị Ánh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hương

Nguyễn Văn Hà

Nguyễn Thị Ánh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ