- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trạc Minh T, Hà Văn Do, Đào Huy T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HS -ST Ngày: 26-05-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU - TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Kính
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lường Khắc Tiệp
2. Ông Hà Bá Khiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 05 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 04 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 05 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Trạc Minh T, sinh ngày 19 tháng 03 năm 1993 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Tiểu khu 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trạc Khềnh C (đã chết) và bà Ngô Thị T, sinh năm 1970; bị cáo có vợ là Đặng Thị Ngọc D ( đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Ngày 11/08/2021 bị Toà án nhân dân huyện Mai Châu xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 20 mươi tháng về tội “ Đánh bạc”; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 02/02/2023; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Hà Văn D, sinh ngày 25 tháng 03 năm 1985 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H, sinh năm 1952 và bà Hà Thị L, sinh năm 1961; bị cáo có vợ là Đào Thị H, sinh năm 1987 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 02/02/2023; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Đào Huy T, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1989 tại huyện C, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Huy M, sinh năm 1969 và bà Lại Thị N, sinh năm 1973; bị cáo có vợ là Lương Thị T, sinh năm 1995 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 02/02/2023; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 30/01/2023, Hà Văn D cùng Đào Huy T đến quán ITEA của Trạc Minh T tại tiểu khu 2, thị trấn M để ăn trưa. Tại đây D ,Đào Huy T, T cùng ngồi ăn với nhau, D rủ T, Đào Huy T khi nào ăn xong thì đánh bài. Khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi ăn xong cả ba lấy bộ bài có sẵn trong quán để đánh bạc tại tầng 2 của quán ITEA, sát phạt nhau bằng tiền mặt dưới hình thức “ba cây”. Luật chơi là sử dụng bộ bài lá 52 cây bỏ các lá 10, J, Q, K chỉ sử dụng 36 (ba mươi sáu) lá từ một (át) đến chín, tính theo thang điểm 10, người được 10 điểm sẽ làm chương (cầm cái), người làm chương chia mỗi người ba lá bài, mỗi người đặt cược từ 50.000 đồng/ván trở lên cược với chương, tính tổng điểm ba lá nếu bằng 10 (mười) điểm thì giữ nguyên, hơn 10 (mười) thì chỉ lấy hàng đơn vị, ai cao điểm hơn chương thì sẽ được chương trả số tiền tương ứng số tiền đặt cược, còn thấp điểm hơn chương thì mất số tiền đã đặt, trường hợp bằng điểm thì tính đến chất của lá bài, to nhất là chất “cơ” đến “rô”, “tép, “bích”.
Khi đánh bạc, Hà Văn D sử dụng 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Đào Huy T sử dụng 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Trạc Minh T sử dụng khoảng 5.000.000đ (năm triệu đồng) để đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, D, T, Đào Huy T bị tổ công tác Công an huyện Mai Châu bắt quả tang. Thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa lên trụ sở Công an huyện Mai Châu để làm rõ hành vi phạm tội.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Châu đã thu giữ:
- Số tiền 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) gồm có tổng 51 (năm mươi mốt) tờ tiền polime, cụ thể: 12 (mười hai) tờ mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 03 (ba) tờ mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 05 (năm) tờ mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) và 31 (ba mươi mốt) tờ mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Tại bản Kết luận giám định số 75/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận 51 (năm mươi mốt) tờ tiền polime trên là tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành.
- 01 (một) bộ bài lá 52 (năm mươi hai) quân bài.
Hiện các vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu quản lý chờ giải quyết theo quy định.
Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 14 tháng 04 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu đã truy tố các bị cáo Trạc Minh T, Hà Văn D và Đào Huy T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Mai Châu, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 321 Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo Trạc Minh T, Hà Văn D và Đào Huy T phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 38; Điều 56; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Trạc Minh T từ 07 đến 09 tháng tù, được trừ đi thời gian bị tạm giữ.
+ Buộc bị cáo Trạc Minh T phải chấp hành hình phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự số 26/2021/HS -ST ngày 11/08/2021 của Toà án nhân dân huyện Mai Châu
+ Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự số 26/2021/HS -ST ngày 11/08/2021 của Toà án nhân dân huyện Mai Châu buộc Trạc Minh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Hà Văn D, Đào Huy T từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); tịch thu tiêu huỷ đối với 01 (một) bộ bài lá 52 (năm mươi hai) quân bài và giải quyết các vấn đề khác theo quy định.
Các bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Mai Châu, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 30/01/2023; Bản kết luận giám định số 75/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 16 giờ 10 phút ngày 30/01/2023, tại quán ITEA của Trạc Minh T ở tiểu khu 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Trạc Minh T, Hà Văn D và Đào Huy T đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền mặt dưới hình thức chơi “ba cây” với tổng số tiền đánh bạc là 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Vì vậy, việc các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố về tội: "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; đủ khả năng nhận thức việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Song do vụ lợi, nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “ba cây” được thua bằng tiền mặt. Lỗi của các bị cáo trong vụ án là lỗi cố ý trực tiếp, do vậy các bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội đã gây ra.
Xét tính chất của vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc với tính chất đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, không có sự câu kết chặt chẽ. Các bị cáo đều là những người thực hành, do đó tính chất và vai trò trong vụ án là như nhau. Tuy nhiên trong vụ án này bị cáo Hà Văn D là người khởi xướng việc đánh bạc do đó giữ vai trò chính; các bị cáo Trạc Minh T, Đào Huy T đồng phạm với vai trò người thực hành và chịu trách nhiệm thứ yếu sau bị cáo Hà Văn D.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và cá thể hoá hành vi phạm tội của các bị cáo:
+ Đối với bị cáo Trạc Minh T đã sử dụng số tiền 5.000.000đ vào việc đánh bạc ngày 30/01/2023. Bị cáo đang trong thời gian thử thách án treo của bản án số 26/2021/HS-ST ngày 11/08/2021 của Toà án nhân dân huyện Mai Châu lại tiếp tục phạm tội mới, do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Đối với Hà Văn D đã sử dụng số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Đào Huy T đã sử dụng số tiền 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng vào việc đánh bạc ngày 30/01/2023; trước khi phạm tội có nhân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các các bị cáo theo quy định tại các điểm i,s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Hà Văn D, Đào Huy T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo Trạc Minh T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn. Đối với các bị cáo Hà Văn D, Đào Huy T không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà nên áp dụng với các bị cáo hình phạt tù có điều kiện cũng đủ giáo dục cải tạo các bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách pháp luật hình sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung. Song xem xét cụ thể trường hợp của các bị cáo, xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là không có tính khả thi.
Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài. Đối với số tiền 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trạc Minh T, Hà Văn Do, Đào Huy T phạm tội “Đánh bạc”.
2.Về hình phạt:
2.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 56 của Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Trạc Minh T 08 (tám) tháng tù được trừ đi 04 ngày bị tạm giữ.
+ Buộc bị cáo Trạc Minh T phải chấp hành hình phạt 10 tháng tù được trừ đi 06 ngày bị tạm giữ về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự số 26/2021/HS -ST ngày 11/08/2021 của Toà án nhân dân huyện Mai Châu
+ Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù, được trừ đi 06 ngày bị tạm giữ về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự số 26/2021/HS-ST ngày 11/08/2021 của Toà án nhân dân huyện Mai Châu buộc Trạc Minh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 (mười tám) tháng tù được trừ đi 10 ngày bị tạm giữ, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Hà Văn D 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời hạn thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/05/2023. + Xử phạt bị cáo Đào Huy T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời hạn thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/05/2023.
Giao bị cáo Hà Văn D cho UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình; giao bị cáo Đào Huy T cho UBND xã P, huyện M, tỉnh Thanh Hoá quản lý giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a,b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
+ Tịch thu xuất hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.650.000đ (tám triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 35/THA ngày 12/5/2023 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Trạc Minh T, Hà Văn D, Đào Huy T mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 322, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Hòa Bình (b/c); - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Công an huyện Mai Châu - Chi cục THADS Mai Châu ; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Hoà Bình; - UBND thị trấn M; - UBND xã P, huyện M, tỉnh Thanh Hoá; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Kính 6 |