vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - Mua bán TPMT. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 29-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quyên và bà Lê Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên toà: Ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 (Viết tắt là 28/4/2023), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 16/5/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/01/2023 và chuyển tạm giam từ ngày 12/01/2023 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Anh Đào Văn T, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

2.Anh Đào Văn T1, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Trương Tuấn A và anh Trần Trung K; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 08/01/2023, Công an huyện L, tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an thị trấn V và Công an xã H kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ B thuộc tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam thì phát hiện Nguyễn Văn Q có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Văn Q, phát hiện thu trong túi áo khoác bên trái Q đang mặc 01 túi nilon màu hồng, miệng túi có kẹp nhựa, bên trong có 185 viên nén màu đỏ và 03 viên nén màu xanh, đều có hình tròn kích thước 0,5cm, bên trên dập chìm ký tự “WY” được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT01”. Tại chỗ Nguyễn Văn Q khai là các viên ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine vừa mua được mang về sử dụng và để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Q: Số tiền 600.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ ngoài màu đen, đã cũ, qua sử dụng; 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển kiểm soát (Viết tắt là BKS) 90B1-723.09 của Nguyễn Văn Q.

* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Q: Không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

* Tại bản kết luận số 23/KL-KTHS ngày 11/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận:

“- Mẫu viên nén màu đỏ trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 18,400g (Mười tám phẩy bốn trăm gam) loại: Methamphetamine.

- Mẫu viên nén màu xanh trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định không tìm thấy chất ma túy,cókhốilượng0,281g(Khôngphẩyhaitrăm tám mươimốtgam)”.

* Quá trình điều tra còn xác định trước đó Nguyễn Văn Q đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cụ thể như sau:

+ Ngày 22/12/2022, tại ngõ vào nhà Nguyễn Văn Q (ở thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam), Q đã bán trái phép 03 viên ma túy tổng hợp loại Methamphetamine cho Đào Văn T (ở thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam) với giá 210.000 đồng. T đem số ma túy này đến nghĩa trang thôn T, xã V sử dụng hết.

+ Ngày 01/01/2023, cũng tại ngõ vào nhà Nguyễn Văn Q (ở thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam), Q đã bán trái phép 03 viên ma túy tổng hợp loại Methamphetamine cho Đào Văn T1 (ở thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam) với giá 210.000 đồng. T1 đem số ma túy này đến nghĩa trang thôn T, xã V sử dụng hết.

* Về nguồn gốc chất ma túy thu giữ, Nguyễn Văn Q khai: Khoảng 12 giờ ngày 08/01/2023, Nguyễn Văn Q sử dụng điện thoại Samsung của mình gọi vào số thuê bao 0383630818 của đối tượng tên Châu (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) hỏi mua ma túy loại Methamphetamine với số tiền 8.000.000 đồng, Châu đồng ý và hẹn Q đến nhà nghỉ B ở thị trấn V để mua bán. Sau đó Q điều khiển xe môtô biển kiểm soát 90B1-723.09 đến nhà nghỉ B và gặp Châu tại tầng 3 của nhà nghỉ, tại đây Q đã đưa cho Châu số tiền 7.900.000 đồng và Châu đưa cho Q 188 viên ma túy tổng hợp, khi Q đang cầm về thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ.

* Vật chứng vụ án: Đối với số ma túy và các viên nén màu xanh còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 01 điện thoại di động Samsung; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển kiểm soát 90B1-723.09 và số tiền 600.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Q đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.

* Quá trình điều tra: Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSLN ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, cũng như yếu tố nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn Q từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù; Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đ đến 10.000.000 đ sung nộp ngân sách Nhà nước; đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Bị cáo Nguyễn Văn Q đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của mình vào các ngày 08/01/2023, 22/12/2022, 01/01/2023 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định việc mua số ma tuý trên là để bán cho các con nghiện và sử dụng cá nhân. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của những người tham gia tố tụng khác cũng như không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát; đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Các anh Đào Văn T và Đào Văn T1 trình bầy về mối quan hệ cũng như các tình tiết liên quan đến vụ án và xác định cụ thể về thời gian, địa điểm, loại ma túy các anh đã mua của Nguyễn Văn Q, đúng như cáo trạng đã nêu. Toàn bộ số ma túy đã mua các anh đã sử dụng hết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn Q tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định về ma tuý và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồi 14 giờ 50 phút ngày 08/01/2023, tại nhà nghỉ B thuộc Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Văn Q đang cất giữ trái phép trong túi áo khoác bên trái Q đang mặc 185 viên nén ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 18,400 gam để sử dụng và bán cho các con nghiện kiếm lời thì bị lực lượng Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn V, Công an xã H phát hiện, bắt quả tang.

Trước đó vào các ngày 22/12/2022 và 01/01/2023, Nguyễn Văn Q đã lần lượt bán cho Đào Văn T và Đào Văn T1 mỗi người 03 viên ma túy, loại Methamphetamine với tổng số tiền 420.000 đồng. Số Methamphetamine mua được T và T1 đã sử dụng hết.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỷ cương pháp luật và gây mất an ninh trật tự trên địa bàn huyện Lý Nhân. Tội phạm mà bị cáo thực hiện đã tác động rất xấu đến đời sống con người, làm giảm sút sức lao động trong xã hội và gia tăng tỷ lệ người nghiện ma tuý, phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo với tuổi đời còn rất trẻ, nhưng lại không chịu học tập, rèn luyện, lao động, sớm sa ngã vào con đường nghiện ngập ma túy, đã bất chấp pháp luật thực hiện tội phạm rất nghiệm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đáp ứng công tác phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy đangdiễnbiếnrấtphứctạp trongtìnhhìnhhiệnnay trên địabàn.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, phần nào thể hiện sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình, xã hội, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy, cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung đối với tội phạm ma túy trong tình hình hiện nay, xét cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với các bị cáo theo Điều 35 và khoản 5 Điều 251 BLHS. Tuy nhiên, cần xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh kinh tế hiện nay của bị cáo để ấn định mức phạt tiền cho phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Số Methamphetamine thu giữ của bị cáo cùng bao gói hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, là chất Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu và tiêu huỷ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS 90B1-723.09, đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn Q, bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm, nên tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 600.000 đồng, HĐXX xác định: Trong đó có 420.000 đồng do Q bán ma túy cho Đào Văn T và Đào Văn T1 mà có, do đó phải tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền này; số tiền 180.000 đồng còn lại là tài sản cá nhân của bị cáo, không có chứng cứ chứng minh do bán ma túy mà có, nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tiếp tục thu giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án dân sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

- Nguyễn Văn Q khai có đối tượng tên Châu (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) đã sử dụng số điện thoại 0383630818 để liên lạc mua bán ma túy cho Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác minh và xác định chủ thuê bao trên có đăng ký tên Nguyễn Văn N sinh năm 1971, trú tại xóm 3, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Kết quả điều tra, xác định: Anh N chưa từng mua, đăng ký sim nào có số 0383630818 và cũng chưa từng cho ai mượn thẻ căn cước công dân để đăng ký sim điện thoại, anh N không quen biết ai tên là Nguyễn Văn Q và không biết ai đang là người sử dụng số điện thoại trên. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, điều tra làm rõ để xử lý về hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" của đối tượng tên Châu, xét thấy phù hợp nên HĐXX không xem xét.

- Đối với Đào Văn T và Đào Văn T1 đã có hành vi mua ma túy để sử dụng và đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng; bản thân Đào Văn T và Đào Văn T1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về các tội phạm ma túy. Do vậy, ngày 01/3/2023, Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp pháp luật, do đó HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2023.

[2] Áp dụng Điều 35 và khoản 5 Điều 251 BLHS.

Phạt tiền đối với Nguyễn Văn Q số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung, nộp ngân sách Nhà nước.

[3] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong có số 23/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01".

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, có số IMEIl: 351890412930447/01, sô IMEI 2: 353869182930447/01; 01 (Một) xe mô tô Exciter, BKS 90B1-72309, số khung: RLCE55P10EY389315, sổ máy 55P1-389318, màu sơn xanh trắng, không có gương chiêu hậu và số tiền 420.000 đồng (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng).

- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Q số tiền 180.000 đồng (Một trăm tám mươi nghìn đồng), nhưng tiếp tục thu giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án dân sự.

(Các vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 28/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân; Số tiền xử lý nêu trên hiện đang gửi giữ tại ủy nhiệm chi số 05 lập ngày 08/5/2023 trong tài khoản số 3949.0.1036366 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân tại Kho bạc Nhà nước huyện Lý Nhân).

[4] Căn cứ các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ