- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HS-ST Ngày: 31-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Hưng.
2. Bà Trương Thị Lệ Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án B - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Công T – sinh năm 1989 tại Hậu Giang.
Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã T, huyện A, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở hiện nay: ấp 1, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyên Công S (đã chết) và bà Phạm Thị X (đã chết); vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị bắt ngày 17/11/2022 và đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ cho đến nay “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Công S, sinh năm 1964, trú tại ấp 2, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Công T bắt đầu sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2020. Từ tháng 4/2021 Nguyễn Công T đến đăng ký tạm trú và làm nghề bán bánh tráng nướng tại ấp Bến Nôm 1, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. T biết Trần Nguyễn Anh T1, sinh năm 2002 trú tại ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai bán ma túy nên vào khoảng 22 giờ 10 phút ngày 17/11/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 60B4-825.69 đi từ nhà đến ấp Phú Tâm, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai tìm gặp T1 để mua ma túy. Khi gặp T1, T đưa Tuấn 200.000đ và nhận lại 01 bịch nylon được hàn kín bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T bỏ ma túy vào túi quần phía trước bên trái và điều khiển xe đi về để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường về, khi T đi đến khu vực đường thuộc ấp Phú Thọ, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ ở túi quần trước bên trái của T 01 bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy đá T tàng trữ để sử dụng cho bản thân đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Công T, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Văn T và dấu mộc đỏ của Công an xã Phú Cường; Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu SH màu trắng, biển số 60B4-825.69.
Căn cứ Bản kết luận số: 2476/KL-KTHS ngày 18/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Công T được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1765 gam, loại: Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Nguyễn Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) bịch nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Nguyễn Công T.
- 01 xe mô tô biển số: 60B4-825.69.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS-ĐQ ngày 24/02/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số: 2476/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ để kết tội đối với bị cáo: Căn cứ vào bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, tại đoạn đường thuộc ấp Phú Thọ, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện Đ phối hợp Công an xã Phú Cường, huyện Đ bắt quả tang Nguyễn Công T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1765 gam ma túy loại Methamphetamine. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 25/CT-VKSĐQ ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, xâm phạm an ninh, trật tự trong xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, nhân cách con người. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử với mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Công T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc trường hợp quy định s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, còn xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, cha mẹ bị cáo mất sớm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế là những tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 phong bì được niêm phong sau giám định số: 2476/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô biển số 60B4-825.69 mà bị cáo sử dụng đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Công S, sinh năm 1964, trú tại ấp Đồn Điền 2, xã Túc Trưng, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan Điều tra đã trao trả cho ông S. Khi cho Nguyễn Công T mượn xe thì ông S không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy nên không xử lý đối với ông S.
Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên T1 đã bán ma túy cho T, qua điều tra xác định là Trần Nguyễn Anh T1, sinh năm 2002 trú tại ấp P xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện Đ khởi tố để điều tra trong một vụ án khác về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số: 2476/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng tuyên tiêu hủy theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an H.Đ; - VKSND H.Đ ; - CCTHADS H.Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND cấp xã; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Viển |