vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể T ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ T ngày 30/3/2023 đến ngày 05/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 24/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang

Ông Vũ Như Cường

Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 10/8/2023 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 01 năm 1986 tại Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn V và bà Phùng Thị V; vợ: Bế Thị Th, con: Hoàng Tuấn T; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; nhân thân: Ngày 30/8/2021 bị Công an huyện B ban hành quyết định số 176/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính (Ngày 30/8/2021 chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính); bị tạm giữ T ngày 30/3/2023 đến ngày 05/4/2023; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, tại khu vực Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an xã Q, huyện B phát hiện Hoàng Văn T, sinh năm 1986, trú tại Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính, khi được yêu cầu kiểm tra T đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 05 gói nhỏ được gói bằng giấy màu vàng (loại giấy trong bao thuốc lá), bên trong chứa chất bột màu trắng được đựng trong một mảnh túi nilon (loại vỏ bơm tiêm y tế). Tổ công tác tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy, kết quả số chất có trong 05 gói nhỏ nêu trên đều trùng với màu đặc trưng của chất ma túy, loại Heroine. Sau khi thử phản ứng, tiến hành gói lại như ban đầu và niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.

Ngày 30/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn T, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành cân số chất màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T, có khối lượng là 0,273g (Không phẩy hai bảy ba gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất bột màu trắng nêu trên được gói trong mảnh giấy màu trắng và niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ” để gửi giám định.

Kết luận giám định số 117/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu “GĐ” gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có khối lượng là 0,273g.

Quá trình điều tra và truy tố, Hoàng Văn T khai nhận: Do bản thân là người nghiện ma túy, nên khoảng 19 giờ ngày 29/3/2023, T đi bộ T nhà thuộc Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực thôn N, xã Q, huyện B rồi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết xuống Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn, với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến cổng Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn, T xuống xe và gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ có biểu hiện nghiện ma túy nên đã hỏi và mua được với người đàn ông này 05 gói nhỏ ma túy được đựng trong mảnh túi nilon (loại vỏ bơm tiêm y tế) với số tiền 500.000đ, T cất vào túi áo sườn bên trái đang mặc. Sau đó, tiếp tục đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết về nhà, khi về đến thôn N, xã Q thì xuống xe đi bộ và sử dụng một ít T số ma túy vừa mua được. Đến khoảng 08 giờ ngày 30/3/2023, T mặc chiếc áo có chứa 05 gói ma túy mua được T tối hôm trước đi bộ xuống đường liên thôn để lên Trung tâm y tế huyện B uống thuốc Methadone, khi vừa xuống đến đường thì bị tổ công tác Công an xã Q, huyện B yêu cầu kiểm tra hành chính, T đã tự giác giao nộp 05 gói nhỏ ma túy có trong túi áo cho tổ công tác.

Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T68” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,220g (Không phẩy hai hai không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định.

- 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có: 05 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh nilon loại vỏ bao kim tiêm và 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

Cáo trạng số: 32/CT-VKS-BT ngày 18/7/2023, Viện kiểm sát nhân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố Hoàng Văn T về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố: Hoàng Văn T phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy''. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hoàng Văn T T 15 (mười lăm ) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính T ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ T ngày 30/3/2023 đến ngày 05/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T68” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,220g (Không phẩy hai hai không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có: 05 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh nilon loại vỏ bao kim tiêm và 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. T các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, tại khu vực Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,273g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định như sau:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù T 01 năm đến 05 năm:

a)…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng T 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền T 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định T 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Xét thấy Cáo trạng số 32/CT-VKSBT ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, miễn hình phạt bổ sung và phải chịu 200.000đ án phí; về Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T68” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,220g (Không phẩy hai hai không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có: 05 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh nilon loại vỏ bao kim tiêm và 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T” là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Ngày 30/8/2021 Hoàng Văn T bị Công an huyện B ban hành quyết định số 176/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý; không có tài sản; không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T68” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,220g (Không phẩy hai hai không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có: 05 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh nilon loại vỏ bao kim tiêm và 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T” không còn giá trị sử dụng; do đó, cần tịch thu tiêu hủy.

. Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Hoàng Văn T vào ngày 29/3/2023 ở cổng Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ, và cũng không quen biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Đối với người đàn ông cho bị cáo đi nhờ xe đến cổng bệnh viện đa khoa Bắc Kạn và người đàn ông bị cáo đi nhờ xe về sau khi mua được ma túy, do bị cáo không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ; Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể T ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ T ngày 30/3/2023 đến ngày 05/4/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “T68” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,220g (Không phẩy hai hai không gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có: 05 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh nilon loại vỏ bao kim tiêm và 01 phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T”.

(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/7/2023 giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện B).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể T ngày tuyên án./.

Cỡ chữ