vanban.org

Bản án 33/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: 1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 65, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-ST
Ngày: 14-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Lước;

2. Bà Đặng Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/HS-ST ngày 13 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1974, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp BH, xã PP, huyện P, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Nhà thuê bà TTD, khu phố TL, phường TP, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Huỳnh Thị Th1; có vợ: Nguyễn Thị Thanh D và 01 con tên Nguyễn Thị Bé Ph, sinh năm 2005; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/02/2023 cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Trần Hoài Tr, sinh năm 1989, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp ĐH, xã VH, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Lò gạch TU 1, ấp SS, xã ĐC, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Huỳnh Thị Th2; có vợ: Nguyễn Thị Bích Th3 và 02 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/7/2018, bị Công an thị xã Dĩ An (Nay là thành phố Dĩ An) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi cá cược bằng tiền trong hoạt động thi đấu thể thao (Bóng đá) tại quyết định số 464/QĐ-XPVPHC, chấp hành nộp phạt xong ngày 28/8/2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/02/2023 cho đến nay, có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố TCA, Phường H, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ NVLS, Tổ H, khu phố PH, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị D; có vợ: Huỳnh Thị Diễm M và chưa có con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/02/2023 cho đến nay, có mặt.

4. Họ và tên: Võ Minh Đ1, sinh năm 1995, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp PTA, xã MP, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và bà Võ Thị Kim B (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/02/2023 cho đến nay, có mặt.

5. Họ và tên: Nguyễn Quốc E, sinh năm 1971, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TH2, xã VH, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Phòng 18 Lò gạch TU 1, ấp SS, xã ĐC, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 (Đã chết) và bà Huỳnh Thị U; có vợ: Đinh Kim D1 và 03 người con: Lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/02/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố TCA, Phường H, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: Khu phố B, phường HP, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp BH, xã PP, huyện P, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Lò gạch PA, khu phố CC, phường TP, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Thanh D2, sinh năm 1977; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp PH, xã PP, huyện P, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Lò gạch PA, khu phố CC, phường TP, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Ông Dương Minh Đ2, sinh năm 1970; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà BHM/MHA, Khu phố N, phường TT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi làm việc: Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Dịch vụ TU (Lò gạch TU 1); địa chỉ: Ấp SS, xã ĐC, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Trần Hồng K và ông Trần Phương Ng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hoài Ph, Trần Hoài Tr, Nguyễn Quốc E đều là công nhân làm việc tại Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Dịch vụ TU (Lò gạch TU 1) và được Công ty cho ở trọ tại khu nhà trọ Lò gạch TU 1 tại ấp SS, xã ĐC, huyện B, tỉnh Bình Dương. Trần Hoài Ph, Trần Hoài Tr là anh em ruột của nhau và là anh vợ của Nguyễn Văn Đ.

Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 05/02/2023, Nguyễn Thanh L điều khiển xe mô tô biển số 95E1-485.xx đi đến phòng trọ của người bạn tên Q tại khu nhà trọ Lò gạch TU 1 để chơi; cùng thời điểm này, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 83E1-337.xx chở Võ Minh Đ1 đến phòng trọ của anh vợ là Trần Hoài Ph do Ph mời Đ đến phòng trọ uống rượu. Lúc này, Liêm, Trúc, Đ, Đ1 và E nhìn thấy tại khu vực bãi đất trống bên hông khu nhà trọ Lò gạch TU 1 có một nhóm người (không rõ tên họ, lai lịch, địa chỉ) đang tụ tập đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Bài Tây binh 06 lá” đặt cược mỗi ván bài từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng/tụ bài, mỗi người thay phiên nhau làm cái 03 ván bài nên L, Tr, Đ, Đ1 và E xin vào cùng tham gia. Qua tin báo của quần chúng có nhiều người đánh bạc thắng thua bằng tiền tại khu trọ Lò gạch TU 1 nên lực lượng Công an xã ĐC phối hợp Công an huyện Bắc Tân Uyên tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt quả tang L, Tr, Đ, Đ1 và E đang đánh bạc thắng thua bằng tiền và lực lượng chức năng thu giữ vật chứng tại hiện trường bao gồm:

- 01 (một) bộ bài Tây loại 52 lá/bộ đã qua sử dụng;

- 01 (một) tấm bìa giấy cứng;

- Số tiền mặt 1.950.000 (một triệu chín trăm năm mươi ngàn) đồng tại chiếu bạc;

- Thu trong người Nguyễn Thanh L: 01 bóp (ví) da trong túi quần trước bên phải, trong bóp da có số tiền mặt 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng; trong túi quần sau bên phải có số tiền mặt 6.450.000 (sáu triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen và 01 (một) xe mô tô biển số 95E1-485.xx;

- Thu giữ trong người của Trần Hoài Tr 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Sam sung, màu trắng;

- Thu giữ trong người Nguyễn Văn Đ: 01 (một) bóp da trong túi quần sau bên phải; số tiền mặt 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng trong túi quần sau bên trái; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen và 01 (một) xe mô tô biển số 83E1-337.xx cùng 01 bản photocoppy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 83E1-337.xx;

- Thu giữ trong người Võ Minh Đ1: 01 (một) bóp da trong túi quần bên phải, trong bóp có số tiền mặt 500.000 (năm trăm ngàn) đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh;

- Thu giữ trong người của Nguyễn Quốc E: Số tiền mặt 920.000 (chín trăm hai mươi ngàn) đồng trong túi quần bên phải và 01 (một) quân (lá) bài trong túi quần trái.

* Quá trình điều tra, đã xác định:

- Nguyễn Thanh L mang theo số tiền 20.000.000 đồng, trong đó L lấy ra 5.000.000 đồng cất vào trong túi quần sau bên phải để sử dụng đánh bạc, số tiền 15.000.000 đồng L dùng dây thun buộc kỹ cất trở lại vào bóp da trong túi quần trước bên phải, số tiền này L không sử dụng để đánh bạc mà dùng để trả nợ cho anh Nguyễn Văn Nh3. Trong lúc đánh bạc và làm cái cho mọi người đặt cược, L thắng số tiền 1.550.000 đồng, L cất số tiền thắng bạc 1.450.000 đồng vào chung số tiền 5.000.000 đồng trong túi quần sau bên phải, còn số tiền 100.000 đồng, L đang đặt tụ bài tiếp theo trên chiếu bạc thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Do đó, xác định số tiền Liêm sử dụng đánh bạc là 5.000.000 đồng, thắng bạc 1.550.000 đồng, bị thu giữ 6.550.000 đồng gồm: thu trên người 6.450.000 đồng và 100.000 đồng trên chiếu bạc.

- Trần Hoài Tr mang theo số tiền 900.000 đồng, trong đó Tr có 200.000 đồng tiền mặt và mượn thêm của người bạn tên Ph1 (không rõ nhân thân, lai lịch 700.000 đồng) và sử dụng hết số tiền 900.000 đồng này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc và làm cái Tr thua hết số tiền 900.000 đồng.

- Nguyễn Văn Đ mang theo số tiền 2.000.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. Đ không tham gia làm cái, chỉ tham gia đặt cược từ 06 đến 07 ván bài, mỗi ván bài Đ đặt cược từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Quá trình đánh bạc, Đ bị thua 300.000 đồng, khi đang đặt cược 200.000 đồng trên chiếu bạc thì bị bắt quả tang nên xác định Đ sử dụng 2.000.000 đồng đánh bạc, thua 300.000 đồng bị thu giữ trên người 1.500.000 đồng và 200.000 đồng trên chiếu bạc.

- Võ Minh Đ1 mang theo số tiền 800.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. Đ1 không làm cái, chỉ tham gia đặt cược, Đ1 cược 06 ván bài mỗi ván cược từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, Đ1 bị thua 100.000 đồng, ván thứ 07, Đ1 đang đặt cược trên chiếu bạc 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Xác định số tiền Đ1 sử dụng đánh bạc là 800.000 đồng, bị thua 100.000 đồng và bị thu giữ số tiền 500.000 đồng.

- Nguyễn Quốc E mang theo số tiền 920.000 đồng và sử dụng hết số tiền này để đánh bạc. E không làm cái, chỉ tham gia đặt cược, E cược 03 ván bài mỗi ván cược 100.000 đồng, ván đầu thắng, ván thứ hai bị thua, ván thứ ba E đang đặt cược trên chiếu bạc 100.000 đồng thì bị bắt quả tang. Khi bị bắt, E cầm lấy 100.000 đồng và 01 quân bài trên chiếu bạc bỏ chạy thì bị bắt lại. Lực lượng chức năng thu giữ 920.000 đồng trên người của E và 01 quân bài tây. Do đó xác định E sử dụng số tiền 920.000 đồng đánh bạc, kết quả không thắng, không thua.

Do đó có căn cứ xác định tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E sử dụng để đánh bạc là 11.320.000 (mười một triệu, ba trăm hai mươi ngàn) đồng; bao gồm: Số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 1.950.000 đồng và số tiền thu giữ trên người các bị cáo (bị cáo L là 6.450.000 đồng, bị cáo Đ là 1.500.000 đồng, bị cáo Đ1 là 500.000 đồng và bị cáo E là 920.000 đồng) và có căn cứ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc hoặc do thắng bạc mà có.

Đối với các đồ vật thu giữ của các bị cáo như: 01 (một) bóp da, 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen và 01 (một) xe mô tô biển số 95E1-485.xx thu giữ của Nguyễn Thanh L; 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung màu trắng thu giữ của Trần Hoài Tr; 01 (một) bóp da, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, 01 (một) xe mô tô biển số 83E1-337.xx, cùng 01 bản photocoppy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 83E1-337.xx thu giữ của Nguyễn Văn Đ; 01 (một) bóp da và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh thu giữ của Võ Minh Đ1. Đây là các tư vật, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý tài sản số 18, trả cho chủ sở hữu.

Đối với 01 (một) bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) tấm bìa bằng giấy cứng. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên để đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên quyết định tịch thu, tiêu hủy.

Đối với tổng số tiền 11.320.000 (mười một triệu, ba trăm hai mươi ngàn) đồng mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên để đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên quyết định tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với tổng số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng thu giữ của Nguyễn Thanh L, đây là số tiền của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên để đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên quyết định trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh L.

Tại Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-BTU ngày 12/7/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” như nội dung cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì khác. Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E phạm tội “Đánh bạc”:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L với mức hình phạt từ 07 (bảy) tháng đến 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Hoài Tr với mức hình phạt từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền từ 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng đến 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng; xử phạt các bị cáo Võ Minh Đ1, Nguyễn Quốc E mỗi bị cáo số tiền từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 11.320.000 (mười một triệu, ba trăm hai mươi ngàn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước; tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 01 (một) tấm bìa giấy cứng và trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh L số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận. Trong nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, đồ vật, tài liệu đã thu giữ tại hiện trường khi bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Lúc 11 giờ 00 phút, ngày 05/02/2023, tại bãi đất trống cạnh khu nhà trọ Lò gạch TU 1, thuộc ấp SS, xã ĐC, huyện B, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an xã ĐC phối hợp cùng lực lượng Công an huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài binh 06 lá, mỗi ván bài, người chơi đặt cược cho một người làm cái từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, tỷ lệ thắng thua 1-1, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 11.320.000 (mười một triệu, ba trăm hai mươi ngàn) đồng. Hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với lời khai của bị cáo Trần Hoài Tr cho rằng trong số những người tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền tại bãi đất trống gần khu nhà trọ Lò gạch TU 1 thuộc ấp SS, xã ĐC, huyện B, tỉnh Bình Dương ngày 05/02/2023 có sự tham gia của đối tượng Trần Phương Ng giữ vai trò là người đề xuất mua bài Tây 52 lá về chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền và Ng là người đầu tiên đứng ra làm cái cho Tr, L, Đ1, Đ và E đặt cược mỗi ván bài từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Khi lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang việc đánh bạc thì Ng không có mặt tại hiện trường, quá trình điều tra Ng xác định không tham gia đánh bạc, bị cáo Tr và bị cáo L khai Ng chỉ quen biết Tr và L do làm chung Công ty còn các bị cáo Đ1, Đ, E đều khai nhận không quen biết Ng. Cả 04 bị cáo L, Đ1, Đ, E đều xác định không nhìn thấy Ng trực tiếp tham gia đánh bạc. Qua đối chất giữa Trần Phương Ng và Trần Hoài Tr, Tr không xác định được người nhờ người khác mua bài Tây và người đánh bạc có phải là Ng hay không. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên không đề cập xử lý đối với Trần Phương Ng là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương nơi gây án, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa trong cộng đồng dân cư. Các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là trái pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi, muốn sát phạt để chiếm đoạt tiền của nhau mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả của các bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giản đơn, hỗ trợ, giúp sức lẫn nhau thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án không thể hiện vai trò người chủ mưu, cầm đầu, xúi giục, giữa các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi tội phạm, không có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng. Lời khai của các bị cáo đều xác định: Các bị cáo là người nhìn thấy đám đông đang đánh bạc tại bãi đất trống cạnh khu nhà trọ Lò gạch TU 1 dưới hình thức bài binh 06 lá, luân phiên mỗi người làm cái 03 ván bài cho người khác đặt cược, các bị cáo xin vào tham gia đánh bạc cùng cho đến khi bị bắt quả tang. Các bị cáo đều không biết người đứng ra tổ chức đánh bạc, không thấy người thu lợi (tiền xâu) từ việc đánh bạc. Trong số các bị cáo thì bị cáo Nguyễn Thanh L là người sử dụng số tiền để đánh bạc nhiều nhất và bị cáo L cũng đã trực tiếp làm cái cho người chơi đặt cược từ 02 đến 03 ván. Do đó, hình phạt áp dụng đối với bị cáo L nghiêm khắc hơn so với các bị cáo còn lại. Các bị cáo Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức cùng bị cáo Liêm thực hiện hành vi phạm tội nên cả bị cáo Tr, Đ, Đ1 và E thuộc trường hợp có vai trò thứ yếu trong vụ án có đồng phạm. Tuy nhiên trong số 04 bị cáo Tr, Đ, Đ1 và E thì bị cáo Tr từng bị Công an thị xã Dĩ An xử phạt hành chính về hành vi cá cược bóng đá, nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Tr nghiêm khắc hơn các bị cáo Đ, Đ1 và E.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng, bị cáo Trần Hoài Tr có bà ngoại Nguyễn Thị H5 là người có công Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.

Xét thấy, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết pháp luật, nhất thời phạm tội; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đều có nơi cư trú rõ ràng, việc làm ổn định. Đối với bản thân bị cáo L và bị cáo Tr không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nếu cho các bị cáo này được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện; do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với bị cáo L và bị cáo Tr và áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với 03 bị cáo còn lại như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục người phạm tội và cũng đáp ứng được tình hình phòng, chống tội phạm tại địa phương.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 11.320.000 (mười một triệu, ba trăm hai mươi ngàn) đồng; tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) bộ bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng, 01 (một) tấm bìa cứng bằng giấy. Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng của bị cáo Nguyễn Thanh L để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 65, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (14/8/2023).

Giao bị cáo Nguyễn Thanh L cho Ủy ban nhân dân phường TP, thành phố TU, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Trần Hoài Tr 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (14/8/2023).

Giao bị cáo Trần Hoài Tr cho Ủy ban nhân dân xã ĐC, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng;

- Xử phạt bị cáo Võ Minh Đ1 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc E số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

2.4. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 69/2023/HSST-LCCT, 72/2023/HSST-LCCT, 71/2023/HSST-LCCT, 73/2023/HSST-LCCT và 70/2023/HSST-LCCT đề cùng ngày 13/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ bài Tây loại 52 lá/bộ đã qua sử dụng và 01 (một) tấm bìa bằng giấy cứng.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 11.320.000 (mười một triệu, ba trăm hai mươi ngàn) đồng.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng của bị cáo Nguyễn Thanh L để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2023 và Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bắc Tân Uyên tại Kho bạc Nhà nước huyện Bắc Tân Uyên ngày 21/7/2023).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh L, Trần Hoài Tr, Nguyễn Văn Đ, Võ Minh Đ1 và Nguyễn Quốc E mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn).

5. Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PHÁN - CHỦ T A PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- Công an tỉnh Bình Dương (PV06);

- Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND huyện Bắc Tân Uyên;

- Công an huyện Bắc Tân Uyên;

Nguyễn Thế Vọng

- Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên;

- Ủy ban nhân dân phường được giao giám sát, giáo dục các bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, Tòa. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ