vanban.org

Bản án 33/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-PT
Ngày: 24-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Võ Trung Hiếu.

Các Thẩm phán:

Ông Mai Văn Hùng Cường.

Ông Trương Vĩnh Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo Trần Hữu C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 60/2022/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Hữu C, sinh ngày 07/07/2002 tại thành phố Cần Thơ. Trú tại: Ấp 1, xã T, huyện L, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn U, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; Anh, chị, em ruột có 04 lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 người đại diện hợp pháp của bị hại, 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên qua không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Hữu C có giấy phép lái xe hạng A1, do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/12/2021. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/5/2022, Trần Hữu C điều khiển xe mô tô biển số 65H1-482.XX chở theo sau Phan Phi D, sinh năm 2005, nơi đăng ký thường trú ấp V, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang lưu thông trên tuyến Quốc lộ 1 theo hướng Mỹ Thuận đi Trung Lương. Khi đến KM 2001+ 900, Quốc lộ 1 đoạn thuộc ấp 6, xã A, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tại vị trí có đoạn mở dãy phân cách cố định, cặp lề đường Quốc lộ 1 bên phải theo hướng xe lưu thông từ Mỹ Thuận đi Trung Lương có đặt biển báo “nguy hiểm đi chậm”, biển báo “nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn” và trụ đèn tín hiệu giao thông báo hiệu đèn vàng chớp tắt liên tục. Gần đến đoạn mở dãy phân cách cố định, Trần Hữu C nhìn thấy phía trước cùng chiều di chuyển có một xe mô tô biển số 63B1-479.XX do anh Trần Anh K, sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú ấp M, xã H, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang điều khiển chở vợ là Trần Thị B, sinh năm 2000 và con ruột là Trần Gia N, sinh năm 2017, ngụ cùng địa chỉ, đang bật đèn xi nhan trái xin chuyển hướng từ lề bên phải đường sang trái đường, trên làn đường của xe ô tô. Do Trần Hữu C không chấp hành biển báo hiệu và nghĩ sẽ vượt qua kịp xe mô tô của anh K nên C điều khiển xe mô tô tăng tốc vượt lên từ bên trái của xe anh K, dẫn đến bên phải xe mô tô của C va chạm vào bên trái xe mô tô anh K làm cả hai xe ngã xuống mặt đường. Hậu quả, làm Phan Phi D ngã xuống va chạm vào đầu dãy phân cách cố định gây tử vong khi đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Cái Bè.

Theo sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/5/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy xác định: Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại KM 2001+900 Quốc lộ 1, thuộc ấp X, xã A, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, là đoạn đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường trải nhựa bằng phẳng có bề rộng 18m chạy dài theo hướng Mỹ Thuận đi Trung Lương và ngược lại. Ở giữa có dãy phân cách cứng chia Quốc lộ 1 thành hai phần đường dành cho xe lưu thông. Mỗi phần đường gồm có 02 làn xe ô tô rộng 3m50 và 01 làn đường dành cho xe máy, xe thô sơ, người đi bộ rộng 02m. Vị trí xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là nơi có đoạn dãy phân cách mở dài 32m20 giao nhau giữa Quốc lộ 1 với đường dẫn cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận và đường huyện 63. Cặp lề đường bên phải theo hướng xe lưu thông từ Mỹ Thuận đi Trung Lương có nhiều biển báo hiệu giao thông và trụ đèn tín hiệu. Chọn hướng xe lưu thông từ Mỹ Thuận đi Trung Lương làm hướng chuẩn, chọn mép đường bên phải của hướng chuẩn làm mép chuẩn, chọn biển báo hiệu nguy hiểm đi chậm cặp lề đường bên phải của mép chuẩn làm điểm chuẩn. Vị trí vùng điểm đụng giữa xe mô tô 63B1-479.XX với xe mô tô 65H1-482.XX có kích thước (00m50 x 00m50), tâm vùng điểm đụng cách vào mép chuẩn theo đường thẳng vuông góc là 08m05. dài

Vị trí biển báo nguy hiểm đi chậm cặp lề đường bên phải của mép chuẩn và cách vị trí vùng điểm đụng theo đường thẳng vuông góc 181m00. Cách vị trí biển báo nguy hiểm theo đường thẳng vuông góc 42m40 là vị trí biển báo nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn cặp lề đường bên phải của mép chuẩn. Cách vị trí biển báo nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn theo đường thẳng vuông góc 51m70 là vị trí biển báo chỉ dẫn cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận. Cách vị trí biển báo chỉ dẫn cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận theo đường thẳng vuông góc là vị trí trụ đèn tín hiệu giao thông cặp lề đường bên phải của mép chuẩn. Cách vị trí trụ đèn tín hiệu giao thông theo đường thẳng vuông góc 09m60 là vị trí vùng điểm đụng. Cách vị trí vùng điểm đụng theo đường thẳng vuông góc 00m40 là vị trí xe mô tô biển số 63B1-479.XX, xe mô tô ngã về bên trái, đầu xe quay về hướng Trung Lương hơi chếch vào mép chuẩn, có trục trước cách vào mép chuẩn theo đường thẳng vuông góc là 06m45, đuôi xe quay về hướng Mỹ Thuận hơi chếch về phần đường bên trái so với mép chuẩn, có trục sau cách mép chuẩn theo đường thẳng vuông góc 0m40. Cách vị trí xe mô tô biển số 63B1-479.XX theo đường thẳng vuông góc 16m40 là vị trí vết màu nâu đỏ nghi máu. Cách vị trí vết màu nâu đỏ theo đường thẳng vuông góc 00m50 là vị trí đầu dãy phân cách cứng đặt giữa quốc lộ 1. Cách vị trí dãy phân cách cứng theo đường thẳng vuông góc 00m45 là vị trí vết cày xe mô tô biển số 65H1-482.XX. Cách vị trí vết cày xe mô tô biển số 65H1-482.XX theo đường thẳng vuông góc 01m80 là vị trí xe mô tô biển số 65H1-482.XX, xe ngã về bên trái, đầu xe quay về phần đường bên trái so với mép chuẩn, hơi chếch về hướng Trung Lương, có trục trước cách vào mép chuẩn theo đường thẳng vuông góc 05m90, đuôi xe quay vào mép chuẩn hơi chếch về hướng Trung Lương, có trục sau cách vào mép chuẩn theo đường thẳng vuông góc 04m70.

Khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 65H1-482.XX liên quan đến tai nạn giao thông ghi nhận: Hệ thống đèn chiếu sáng phía trước, đèn báo rẽ phía trước bên phải, bên trái bị vỡ hoàn toàn rời khỏi xe. Gá bắt kính chiếu hậu bên trái mài mòn, kích thước (1,5x0,5)cm. Cụm đèn, còi bên trái bằng nhựa màu đen bị mài mòn, kích thước (2x1,5)cm. Đầu ngoài cùng tay lái bên trái rời khỏi xe. Gác chân trước bên phải bị cong vênh chiều hướng từ trước ra sau và bị trầy xướt tróc sơn, kích thước (2,5x2,5)cm. Phanh chân bên phải bằng kim loại sơn màu đen bị cong vênh chiều hướng từ trước ra sau. Cần khởi động máy bên phải bị mài mòn, tróc sơn, kích thước (7x2)cm. Ốp bảo vệ bộ phận giảm thanh (bô xe) bên phải bằng kim loại bị mài mòn không liên tục, kích thước (38x4)cm. Gác chân bên trái đầu ngoài cùng bằng kim loại bị mài mòn, kích thước (4,5x3)cm và bị cong vênh chiều hướng từ ngoài vào trong dính vào lóc máy. Gác chân bên trái đầu ngoài cùng bằng kim loại bị mài mòn, kích thước (4,5x3)cm và bị cong vênh chiều hướng từ ngoài vào trong dính vào lóc máy. Cần chuyển động số bên trái bị cong vênh dính vào lốc máy. Ốp bảo vệ thân xe (ốp sườn) phía sau bên trái bằng nhựa sơn màu trắng bị trầy xướt, kích thước (3x0,5)cm. Gác chân bên trái bị gãy rời khỏi xe.

Khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 63B1-479.XX liên quan đến tai nạn giao thông ghi nhận: Đầu ngoài cùng tay lái bên trái bằng nhựa màu đen bị mài mòn, kích thước (2,5x2,5)cm. Đầu ngoài cùng tay côn bên trái bằng kim loại sơn màu đen bị mài mòn, kích thước (1,5x1)cm. Ốp bảo vệ đèn báo rẽ bên trái bằng nhựa màu đen bị vỡ, mài mòn không liên tục, kích thước (17x5)cm. Ốp đèn báo rẽ bên trái bằng nhựa màu trắng bị trầy xướt, kích thước (8x2,5)cm. Yếm xe (bửng) bên trái bằng nhựa sơn màu trắng bị gãy chốt cố định rời khỏi vị trí ban đầu. Yếm xe (bửng) bên phải bị hở chốt cố định. Vành đúc (niền xe) bánh xe phía trước mặt bên trái bị mài mòn không liên tục, kích thước (27x1,5)cm. Ốp bảo vệ lóc máy bằng nhựa sơn màu bạc bị thụng mó, trầy xướt không liên tục, kích thước (6x1)cm. Đầu ngoài cùng cần chuyển động số bị mài mòn, kích thước (0,8x0,8)cm và bị cong vênh chiều hướng từ trước về sau. Gác chân phía trước bên trái bằng kim loại bị mài mòn và để lại vết bám sơn màu đỏ, kích thước (3,5x1)cm. Mặt dưới gác chân phía trước bên trái bằng kim loại bị mài mòn đến đầu ngoài cùng, kích thước (12x2)cm. Gá bắt chân cố định gác chân phía sau bên trái bằng kim loại bị mài mòn, kích thước (3,5x2,5)cm. Ốp bảo vệ cố định bảo vệ thân xe phía sau bên trái bằng nhựa sơn màu trắng bị trầy xướt kéo dài không liên tục, kích thước (20x3)cm. Đèn báo rẽ phía sau bên trái bị gãy chốt cố định rời khỏi vị trí ban đầu còn dính lại phần dây điện.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 xe mô tô biển số 65H1-482.XX; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65H1-482.XX (bản phô tô có chứng thực); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 65H1-482.XX; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Hữu C.

- 01 xe mô tô biển số 63B1-479.XX; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B1-479.XX; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 63B1-479.XX; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Anh K.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy trao trả 01 xe mô tô biển số 63B1-479.XX; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B1-479.XX; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô biển số 63B1-479.XX; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Anh K cho anh K.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 65H1-482.XX; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe mô tô biển số 65H1-482.XX, Cơ quan điều tra đã trao trả cho Trần Hữu C.

Vật chứng còn lại là 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô biển số 65H1-482.XX (bản phô tô có chứng thực); 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Hữu C, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 52/PY-PC09 ngày 16/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang đối với Phan Phi D, kết quả cận lâm sàng định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 27mg/dL, kết luận nguyên nhân tử vong tử thi: chấn thương sọ não.

Phiếu kết quả xét nghiệm Trung tâm y tế huyện Cái Bè ngày 03/05/2022 nồng độ cồn trong máu của Trần Hữu C 00 mg/dL. Phiếu kết quả xét nghiệm Trung tâm y tế huyện Cái Bè ngày 03/05/2022 nồng độ cồn trong máu của Trần Anh K 00 mg/dL.

Lỗi trong vụ tai nạn giao thông đường bộ được xác định do bị cáo Trần Hữu C điều khiển xe mô tô biển số 65H1-482.XX, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ tại nơi có biển báo nguy hiểm đi chậm, biển báo nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn, trụ đèn tín hiệu giao thông, điều khiển phương tiện đi không đúng làn đường và vượt xe không đảm bảo an toàn theo quy định. Hành vi trên của bị cáo Trần Hữu C đã vi phạm Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11 và khoản 1 khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình nạn nhân Phan Phi D và vợ chồng Trần Anh K không yêu cầu bồi thường.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Hữu C có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo C. Căn cứ vào các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2022/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy đã quyết định:

Về hình phạt:

Căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Hữu C 01 (Một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Hữu C.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Ngày 27 tháng 12 năm 2022, các bị cáo Trần Hữu C có đơn kháng cáo

với nội dung: xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Trần Hữu C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy đã nêu. Bị cáo rất ăn năn hối hận đối với hành vi của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét, bị cáo kháng cáo nhưng không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó không có căn cứ để xem xét kháng cáo của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu C thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đã nêu, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/5/2022, Trần Hữu C điều khiển xe mô tô biển số 65H1-482.XX chở theo sau Phan Phi D, sinh năm 2005, nơi đăng ký thường trú ấp V, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang lưu thông trên tuyến Quốc lộ 1 theo hướng Mỹ Thuận đi Trung Lương. Khi đến KM 2001+ 900, Quốc lộ 1 đoạn thuộc ấp X, xã A, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tại vị trí có đoạn mở dãy phân cách cố định, cặp lề đường Quốc lộ 1 bên phải theo hướng xe lưu thông từ Mỹ Thuận đi Trung Lương có đặt biển báo “nguy hiểm đi chậm”, biển báo “nguy hiểm giao nhau có tín hiệu đèn” và trụ đèn tín hiệu giao thông báo hiệu đèn vàng chớp tắt liên tục. Gần đến đoạn mở dãy phân cách cố định, Trần Hữu C nhìn thấy phía trước cùng chiều di chuyển có một xe mô tô biển số 63B1-479.XX do anh Trần Anh K, sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú ấp M, xã H, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang điều khiển chở vợ là Trần Thị B, sinh năm 2000 và con ruột là Trần Gia N, sinh năm 2017, ngụ cùng địa chỉ, đang bật đèn xi nhan trái xin chuyển hướng từ lề bên phải đường sang trái đường, trên làn đường của xe ô tô. Do Trần Hữu C không chấp hành biển báo hiệu và nghĩ sẽ vượt qua kịp xe mô tô của anh K nên C điều khiển xe mô tô tăng tốc vượt lên từ bên trái của xe anh K, dẫn đến bên phải xe mô tô của C va chạm vào bên trái xe mô tô anh K làm cả hai xe ngã xuống mặt đường. Hậu quả, làm Phan Phi D ngã xuống va chạm vào đầu dãy phân cách cố định gây tử vong khi đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Cái Bè. Do đó cấp sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Hữu C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, gây hậu quả nghiêm trọng, là chết 01 người, thiệt hại trên là không thể bù đắp được. Do đó, phải áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ. Bởi lẽ: Cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên tuyên mức án 01 năm tù là phù hợp. Bị cáo phạm tội gây thiệt hại về tính mạng con người và mất an toàn giao thông nơi xảy ra vụ án. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không có bổ sung tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT Đ NH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Hữu C.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 60/2022/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Tuyên bố bị cáo Trần Hữu C: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Trần Hữu C 01 ( một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ