vanban.org

Bản án 33/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. 2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HS-PT
Ngày: 21-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.

Các Thẩm phán: Ông Lê Xuân Hải.

Ông Lê Văn Duy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 36/2023/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2022/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã H.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Không xác định và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe theo quy định, là nhân viên lái xe của Công ty TNHH T. Ngày 21/4/2022, được sự điều động của Công ty TNHH T, Nguyễn Văn T điều khiển xe ôtô tải biển số 77C-198.XX (do Công ty TNHH T đứng tên chủ sở hữu) chở cát từ phường T, thị xã H đến phường H, thị xã H. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô biển số 77C-198.XX đến đoạn đường N giao nhau với đường N1 (thuộc khu phố T, phường T, thị xã H). Lúc này, T điều khiển xe lưu thông ở giữa đường N, hướng Đông - Tây, tốc độ khoảng 44km/h. Cùng lúc này, ông Nguyễn N điều khiển xe máy biển số 52MA-46XX lưu thông từ đường N1 sang đường N, hướng Bắc-Nam, tốc độ khoảng 10-15km/h. Khi xe máy do ông N điều khiển lưu thông đến làn đường xe cơ giới phía Nam của đường N thì T phát hiện. Lúc này, khoảng cách giữa hai xe khoảng 9-10m, T phanh xe và lách tránh sang trái nhưng không kịp, xe ôtô biển số 77C-198.XX va chạm với xe máy biển số 52MA-46XX trên làn đường xe cơ giới phía Nam của đường N, gây ra tai nạn, làm ông N bị thương và chết tại Trung tâm y tế thị xã H.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 139/2022 ngày 27/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận ông Nguyễn N chết do chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy và đa chấn thương.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T và Công ty TNHH T đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn N 100.000.000 đồng, gia đình bị hại bãi nại và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 116/2022/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã H đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/4/2022, bị cáo Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ôtô tải biển số 77C-198.XX tham gia giao thông. Khi đi đến đoạn đường N thuộc khu phố T, phường T, thị xã H, do thiếu sự quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn, nên bị cáo T đã để xe ô tô tải do mình điều khiển tông vào xe mô tô biển số 52MA-46XX do ông Nguyễn N điều khiển trên làn đường xe cơ giới phía Nam của đường N, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả, ông N chết do chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy và đa chấn thương. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác và trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị hại bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được chứng cứ, tình tiết gì mới để giảm nhẹ hình phạt cho mình. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.

Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội thì kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

1.2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ