vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Ngọc H.

[1].Về hôn nhân: Cho bà Chung Thị Ngọc H được ly hôn với ông Hoàng Thế N. [2].Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung cháu Hoàng Thế Nhân, sinh ngày 26/4/2019 cho ông N trực tiếp trôm nom, chăm sóc và nuôi dưỡng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/5/2023.
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Diệm, ông Trịnh Văn Thành.

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường -Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/4/2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXX-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Chung Thị Ngọc H, sinh năm 1996 (xin vắng mặt).

Địa chỉ nơi cư trú: Khu phố X, phường T, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Thế N, sinh năm 1992 (xin vắng mặt)

Địa chỉ nơi cư trú: Khu phố X, phường T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2023, quá trình giải quyết nguyên đơn bà Chung Thị Ngọc H trình bày:

Bà H và ông Hoàng Thế N tự nguyện tìm hiểu yêu thương và tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Ngày 30/6/2017 có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), Bình Phước. Từ khi chung sống hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, phát sinh khoảng 2 năm trở lại đây. Lý do là vì chi tiêu trong gia đình không thống nhất, toàn bộ chi phí là do bà H phải lo lắng. Việc nuôi dạy con cái có nhiều mâu thuẫn, bà H không được dạy con theo ý mình, việc gì mẹ chồng (mẹ của ông N) cũng can thiệp nên cuộc sống gò bó, không thoải mái. Bà H đã trao đổi nhiều lần nhưng không có kết quả, dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khoảng tháng 3/2023 bà H đã chuyển ra ngoài, không còn chung sống với ông N nữa. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Thế N.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà H và ông Hoàng Thế N có 01 con chung là Hoàng Thế Nhân, sinh ngày 26/4/2019. Ông N hiện đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; bà H yêu cầu giao con cho ông N tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, cho vay, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hoàng Thế N trình bày: Ông N và bà Chung Thị Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường T, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước cấp, việc chung sống và kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Khi mới kết hôn, ông N và bà H sống với nhau rất hòa thuận và êm ấm. Khoảng năm 2022 cuộc sống chung thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà Chung Thị Ngọc H có tình cảm với người khác bên ngoài. Do tình cảm còn và muốn con có đủ cha mẹ để nuôi dưỡng nên không đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà H và ông N có 01 con chung là Hoàng Thế Nhân, sinh ngày 26/4/2019, hiện ông N đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên ông yêu cầu tiếp tục giao cháu Nhân cho ông nuôi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản, cho vay nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Cuộc sống chung của bà H, ông N có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng các khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Ngọc H, tuyên xử bà H được ly hôn với ông Hoàng Thế N.

- Về con chung: Giao cháu Hoàng Thế Nhân, sinh ngày 26/4/2019 cho ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

- Án phí: Bà H phải chịu án phí 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” do bà Chung Thị Ngọc H khởi kiện. Bị đơn ông Hoàng Thế N cư trú tại Khu phố X, phường T, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà H, ông N có đơn xin xét xử vắng mặt đúng quy định của pháp luật. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án thành phố Đồng Xoài tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[3].Nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Chung Thị Ngọc H và ông Hoàng Thế N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 53, ngày 30/6/2017. Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Do đó bà H có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông N là có căn cứ.

Xét tình trạng hôn nhân của bà H với ông N: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng đến nay bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông N. Vì bà cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn trong chi phí sinh hoạt gia đình, trong việc nuôi dạy con chung và việc mẹ chồng can thiệp vào cuộc sống gia đình làm bà H cảm thấy không thoải mái nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N nhận được thông báo thụ lý vụ án và biết được việc bà H yêu cầu ly hôn, ông N xác định cuộc sống chung cũng có nhiều mâu thuẫn nhưng lý do là vì bà H có tình cảm với người khác bên ngoài, vì muốn con có sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ nên ông N không đồng ý ly hôn.

Ông N và bà H đã không còn chung sống từ tháng 3/2023 cho đến nay; trong quá trình giải quyết vụ án, bà H vẫn luôn giữ yêu cầu ly hôn mặc dù ông N không đồng ý ly hôn nhưng không thể hiện thiện chí hòa giải; cụ thể, khi Tòa án tiến hành hòa giải thì cả hai bên đều xin vắng mặt, do đó không thể hòa giải vụ án được. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của bà H và ông N có những mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

[3.2].Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà H và ông N có 01 con chung là Hoàng Thế Nhân, sinh ngày 26/4/2019, hiện ông N đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên ông yêu cầu tiếp tục giao cháu Nhân cho ông nuôi. Bà H cũng đồng ý để ông N trực tiếp chăm sóc cháu Nhân. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, giao cháu Hoàng Thế Nhân cho ông N trực tiếp nuôi.

Về cấp dưỡng: Bà H và ông N yêu cầu tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3].Về tài sản chung, cho vay, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4].Án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Ngọc H.

[1].Về hôn nhân: Cho bà Chung Thị Ngọc H được ly hôn với ông Hoàng Thế N.

[2].Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung cháu Hoàng Thế Nhân, sinh ngày 26/4/2019 cho ông N trực tiếp trôm nom, chăm sóc và nuôi dưỡng;

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

[3].Về chia tài sản, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4].Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Chung Thị Ngọc H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004824 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài. Bà H đã nộp đủ án phí.

[5].Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[6]. Quyền kháng cáo: Bà H, ông N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ