- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với ông Đặng Văn T1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- T1 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm.
2. Ông Lương Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 23/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1991. Hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh H; tạm trú: Nhà trọ T, khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh B; có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1988. Hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh H; tạm trú: Nhà trọ T, khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh B; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/12/2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Phan Thị T trình bày:
Sau thời gian tự nguyện tìm hiểu, bà Phan Thị T và ông Đặng Văn T1 tiến đến hôn nhân. Bà T và ông T1 đăng ký kết hôn ngày 12/12/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh H.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu bà T và ông T1 chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà T xác định không còn tình cảm với ông T1 và vợ chồng không còn sống chung với nhau đã lâu. Nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đặng Văn T1.
Về con chung: Bà Phan Thị T và ông Đặng Văn T1 có 01 con chung tên Đặng Thái S, sinh ngày 26/5/2021. Hiện tại con chung đang sống cùng với bà T. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Đặng Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phan Thị T được ly hôn với ông Đặng Văn T1.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung tên Đặng Thái S, sinh ngày 26/5/2021 cho bà Phan Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phan Thị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Phan Thị T yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con chung với ông Đặng Văn T1, đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Ông Đặng Văn T1 đang cư trú tại nhà trọ T thuộc khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Đặng Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia các phiên họp, hòa giải và phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Bà Phan Thị T có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T và ông Đặng Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh H vào ngày 12/12/2014, đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà Phan Thị T cho rằng mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và vợ chồng không còn sống chung với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ ông T1 tham gia tố tụng nhưng ông T1 luôn vắng mặt, điều đó cho thấy ông T1 không còn quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm với bà T. Tại biên bản xác minh ngày 10/3/2023 thể hiện mâu thuẫn cụ thể giữa bà T và ông T1 thì chính quyền địa phương không rõ. Xét quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên tình yêu thương, trách nhiệm, nghĩa vụ, sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà T và ông T1 không tìm ra được tiếng nói chung, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phan Thị T và ông Đặng Văn T1 có 01 con chung tên Đặng Thái S, sinh ngày 26/5/2021. Hiện tại, con chung đang sống cùng bà T. Bà T yêu cầu Tòa án giao con chung cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Phan Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với ông Đặng Văn T1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T được ly hôn với ông Đặng Văn T1.
2. Về con chung: Giao con chung tên Đặng Thái S, sinh ngày 26/5/2021 cho bà Phan Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Đặng Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Phan Thị T và ông Đặng Văn T1 đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chưa T1 niên, Tòa án có thể giải quyết việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà Phan Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001600 ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Các đương sự; - Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huỳnh |