- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị T - Phan Đức T "Ly hôn""
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-4-2023 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và bà Đào Thị Ngâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 12 năm 2022, về tranh chấp“Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1980;
Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên.
2. Bị đơn: Ông Phan Đức T, sinh năm: 1977;
Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (T) và ông Phan Đức T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, thị xã T (cũ) nay là thành phố T vào năm 2000. Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, do ông T thường xuyên đánh chửi tôi không có lý do. Nhưng tôi vẫn cố gắng chịu đựng vì con nhưng ông T vẫn không thay đổi. Hiện chúng tôi đã sống ly thân, tôi đã về nhà cha mẹ ruột để sống từ tháng 10/2022 cho đến nay; vợ chồng không còn ai quan tâm đến ai. Nay thấy mâu thuẫn không thể khắc phục được, tôi không thể tiếp tục chung sống với ông T được nữa nên làm đơn xin được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là Phan Anh V, sinh ngày 11/11/1996; Phan Nữ Hoàng V, sinh ngày 19/6/2000 và Phan Hoàng Thế V, sinh ngày 21/02/2008. Hai cháu lớn đã trưởng thành nên tôi không có yêu cầu gì. Còn cháu Phan Hoàng Thế V hiện đang sống cùng tôi. Ly hôn tôi xin nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chúng tôi có 05 căn nhà cấp 4 tại phường P, sẽ tự thoả thuận giải quyết, nếu không được sẽ làm đơn yêu cầu sau nên hiện tôi không yêu cầu Toà giải quyết về tài sản chung.
* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với bị đơn; về con chung: hai con là Phan Anh V và Phan Hoàng Thế V đã trưởng thành nên không có yêu cầu gì; xin nuôi cháu Phan Hoàng Thế V và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nguyên đơn được ly hôn bị đơn. Về con chung: Hai con là Phan Anh V, Phan Nữ Hoàng V đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; Giao con chung là Phan Hoàng Thế V cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết. Về án phí: nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phan Đức T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị T và bị đơn ông Phan Đức T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, thị xã T (cũ) nay là phường P, thành phố T vào năm 2000, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như đương sự trình bày. Hiện vợ chồng không sống cùng với nhau, nguyên đơn đã về nhà cha mẹ ruột để sống từ tháng 10/2022 cho đến nay; vợ chồng không còn ai quan tâm đến ai, là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Bị đơn ông Phan Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa để giải quyết là bỏ mặc, không muốn hàn gắn cuộc sống hôn nhân. Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Phan Anh V, sinh ngày 11/11/1996; Phan Nữ Hoàng V, sinh ngày 19/6/2000 và Phan Hoàng Thế V, sinh ngày 21/02/2008. Hai cháu Phan Anh V và Phan Nữ Hoàng V đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Còn cháu Phan Hoàng Thế V hiện đang sống cùng nguyên đơn. Ly hôn nguyên đơn xin nuôi cháu Phan Hoàng Thế V và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của con nên chấp nhận. Giao con chung Phan Hoàng Thế V cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 107 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị T được ly hôn ông Phan Đức T.
- Về con chung: Hai con chung là Phan Anh V, sinh ngày 11/11/1996; Phan Nữ Hoàng V, sinh ngày 19/6/2000 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Giao con chung là Phan Hoàng Thế V, sinh ngày 21/02/2008 cho bà Huỳnh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phan Đức T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0007837 ngày 21/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - Viện KSND thành phố Tuy Hòa; - Chi cục THADS thành phố Tuy Hòa; - Các đương sự; - UBND phường P, T; (Giấy CNKH số 36 ngày 24/3/2000) - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lƣơng Công Hạnh Đào Thị Ngâm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |