vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 15/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Hoàng Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H ly hôn với chị Trần Thị H. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Trần Gia B, sinh ngày 01/10/2011 cho Anh Hoàng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Trần Thị H- Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Hoàng Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16-02-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 12/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn H, nơi ĐKHKTT: Thôn Đồi C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi tạm trú: Số 296, khu 1, đường Zhongyang, quận Wuqi, thành phố Đài Trung, Lãnh thổ Đài Loan; vắng mặt;

- Bị đơn: Chị Trần Thị H, nơi ĐKHKTT: Thôn Đồi C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi tạm trú: Số nhà 8, ngõ 12, N, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện (đã được hợp pháp hóa lãnh sự) của nguyên đơn là Anh Hoàng Văn H, bản tự khai của bị đơn là chị Trần Thị H thống nhất trình bày:

Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 22 tháng 4 năm 2011. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra xích mích, mâu thuẫn xoay quanh vấn đề tiền bạc, cuộc sống chung không hòa thuận. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay. Nay anh chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H có một con chung là Hoàng Trần Gia B, sinh ngày 01/10/2011. Ly hôn, Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H thỏa thuận Anh Hoàng Văn H sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung anh chị xin tự giải quyết với nhau, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh chị giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện, bản tự khai và không có sự thay đổi nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

- Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Nguyên đơn là Anh Hoàng Văn H hiện nay đang sinh sống ở Lãnh thổ Đài Loan, bị đơn là chị Trần Thị H hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án xác định như sau: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thanh Sơn, huyện Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 22 tháng 04 năm 2011, theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống không hòa thuận, hạnh phúc, nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế. Đặc biệt, chính vì sự xa cách về địa lý nên vợ chồng ít quan tâm, chăm sóc nhau. Vợ chồng Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H đã sống ly thân với nhau trong thời gian dài. Nay Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thỏa thuận, thống nhất ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đề nghị ly hôn của Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H.

Về con chung: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H thống nhất có 01 con chung là Hoàng Trần Gia B, sinh ngày 01/10/2011. Ly hôn, Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H thỏa thuận: Hoàng Văn Hồng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Con chung cháu Hoàng Trần Gia B có nguyện vọng ở với Anh Hoàng Văn H. Xét thấy, việc thỏa thuận về nuôi con chung khi ly hôn của Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, do đó cần giao con chung cho Anh Hoàng Văn H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H xin tự giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Hoàng Văn H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Hoàng Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H ly hôn với chị Trần Thị H.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Trần Gia B, sinh ngày 01/10/2011 cho Anh Hoàng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Việc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh Hoàng Văn H và chị Trần Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Anh Hoàng Văn H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0000954 ngày 19 tháng 01 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Hoàng Văn H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Anh Hoàng Văn H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Chị Trần Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ