- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ánh ly hôn với ông Dường"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Nguyệt Á.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 33/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06-7-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Văn Dũng;
2. Ông Chau Rót Tha
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Nguyệt Á, sinh năm: 1985; địa chỉ cư trú: Tổ 3, ấp CN, xã LAT, huyện TT, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Lâm Văn Đ, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Tổ 3, ấp CN, xã LAT, huyện TT, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, bà Á có mặt; ông Đ vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23/02/2023 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Trần Thị Nguyệt Á trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông Đ được hình thành là do tự tìm hiểu, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2007, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã LAT, huyện TT, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 97 ngày 16/10/2009. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ không quan tâm đến gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi chơi cờ bạc, không lo làm ăn, bà phải một mình lo kinh tế trong gia đình và nuôi con, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Đ không từ bỏ, nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và bà không thể chịu đựng được dẫn đến hai người ly thân nhau từ ngày 09/08/2012 cho đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình có hàn gắn nhưng không thành. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông Đ.
Về quan hệ con chung: Bà với ông Đ có 02 con chung: Lâm Thành Đư, sinh ngày 11/06/2008; Lâm Thanh T, sinh ngày 26/02/2012. Hiện con chung là do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quan hệ nợ chung: Bà với ông Đ không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Lâm Văn Đ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, bà Ánh bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Bà Á – ông Đ chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông Đ không quan tâm đến gia đình, còn thường xuyên bỏ nhà, chơi cờ bạc … bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Đ không thay đổi… nên bà Á xin ly hôn là có căn cứ. Về quan hệ con chung: 02 con có ý nguyện sống chung với mẹ, nên đề nghị HĐXX chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Bà Á khởi kiện: “Tranh chấp ly hôn” với ông Đ, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông Đ có địa chỉ cư trú tại xã LAT, huyện TT, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Ông Đ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Á – ông Đ kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2007, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số số 97 ngày 16/10/2009, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, bà Á bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông Đ không lo làm ăn, thường xuyên vắng nhà, không quan tâm đến gia đình bà và ông Đ ly thân đã lâu, gia đình đứng ra hàn gắn nhưng không thành…
Qua trình bày của bà Ánh, mặc dù ông Đ vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào ngày 19/5/2023 của Tòa án thể hiện: Hôn nhân giữa Á – Đ là do tự quen biết, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến năm 2012 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do ông Đ không quan tâm đến gia đình, tụ tập ăn nhậu không lo làm ăn, bên cạnh đó ông Đ còn quen biết với người phụ nữ khác, nên khả năng đoàn tụ chung sống lại với nhau là không thể.
Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa bà Á – ông Đ đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Á.
. Về quan hệ con chung: Xét thấy con chung tên Lâm Thành Đư và Lâm Thanh T từ trước đến nay do bà Á nuôi, tình cảm giữa cháu Đư và cháu T với bà Á đã thật sự gắn bó; ý nguyện của 02 cháu khi cha mẹ ly hôn 02 cháu xin tiếp tục sống chung với mẹ. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của 02 cháu cũng như tạo điều kiện cho hai cháu phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao cháu Đư, cháu T cho bà Á tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.
HĐXX cũng giải thích cho bà Á biết: Trong thời gian nuôi con, bà Á cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng tại Tòa bà Ánh không yêu cầu, nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.
Về quan hệ tài sản chung: Bà Á tự thỏa thuận.
Về quan hệ nợ chung: Bà Á khai bà với bà ông Đ không có nợ chung. Tuy nhiên do ông Đ vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông Đ có chứng cứ khác chứng minh có nợ chung và ông Đ có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà Á là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Nguyệt Á.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Nguyệt Á được ly hôn với ông Lâm Văn Đ.
Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Nguyệt Á tiếp tục nuôi hai con chung tên Lâm Thành Đư, sinh ngày 11/06/2008; Lâm Thanh T, sinh ngày 26/02/2012.
Công nhận tự nguyện của bà Trần Thị Nguyệt Á không yêu cầu ông Lâm Văn Đ cấp dưỡng nuôi con.
Bà Á cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Bà Á tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Thị Nguyệt Á phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009908 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT (bà Á nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/7/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAT; - VKS huyện; - THADS để thi hành. - UBND xã Lương An Trà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Vp. | Lê Văn Huệ |