vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị D được ly hôn với anh Vi Văn P. Về nuôi con chung: Giao cháu Vi Yến N, sinh 20/3/2017 cho chị Nông Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nông Thị D và bị đơn anh Vi văn P"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 24 - 7 - 2023
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Míp Niê.

2. Bà Nguyễn Thị Chinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang. Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2023/TLST- HNGĐ, ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST- DS ngày 19 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST – DS ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nông Thị D, sinh 1988 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

- Bị đơn: Anh Vi Văn P, sinh 1989 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện K, Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nông Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Vi Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K vào năm 2011. Sau kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hòa hợp mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải. Nên chúng tôi đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Vì tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể duy trì nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Vi Văn P.

Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và anh Vi Văn P có 02 con chung là cháu Vi Văn N T, sinh 01/5/2011 và cháu Vi Yến N, sinh 20/3/2017. Sau ly hôn, tôi có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án anh Vi Văn P trình bày:

Trên cơ sở tình yêu tự nguyện và được sự cho phép của hai bên gia đình nên tôi và chị Nông Thị D tổ chức cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo qui định tại UBND xã E, huyện K vào năm 2011. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Vì vậy làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng nên chúng tôi đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đồng ý ly hôn với chị Nông Thị D.

Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và chị Nông Thị D có 02 con chung là cháu Vi Văn N T, sinh 01/5/2011 và cháu Vi Yến N, sinh 20/3/2017. Sau ly hôn, tôi có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng cháu T đến tuổi trưởng thành và đồng ý giao cháu N cho chị D chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo theo qui định cho anh Vi Văn P, nhưng anh P không có mặt nên Tòa án không thể hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị D, cho chị D được ly hôn với anh P. Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:

[ 1 ]. Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn xin ly hôn của chị Nông Thị D, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Vi Văn P, trú tại thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk.

Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã triệu tập và tống đạt hợp lệ thông báo phiên họp và hòa giải theo qui định cho anh Vi Văn P. Nhưng anh P không có mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bị đơn anh Vi Văn P vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn chị Nông Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tiến hành xét xử vắng các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhận: Chị Nông Thị D và anh Vi Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo qui định tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk vào năm 2011.Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh P là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Nên vợ chồng thường xuyên cãi vả dẫn tới phát sinh mâu thuẫn. Vì mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết nên chị D và anh P đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay.

Qúa trình giải quyết vụ án Chị D và anh P đều thừa nhận cuộc sống chung của vợ chồng có nhiều bất đồng và thường xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng hiện đã sống ly thân và nhận thấy tình cảm không còn, hôn nhân không thể duy trì nên đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị D, cho chị D được ly hôn với anh P.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị D và anh P có 02 con chung là cháu Vi Văn N T, sinh 01/5/2011 và cháu Vi Yến N, sinh 20/3/2017. Qúa trình giải quyết vụ án chị D có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Ph có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng cháu T và đồng ý giao cháu N cho chị D chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành

HĐXX xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là trách nhiệm của cả cha và mẹ. Chị D và anh P đều có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung, nên căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX thấy cần giao cháu T cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu N cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị D được ly hôn với anh Vi Văn P.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Vi Yến N, sinh 20/3/2017 cho chị Nông Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Giao cháu Vi Văn N T, sinh 01/5/2011 cho anh Vi Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi

Anh P và chị D có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nông Thị D là là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ