vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị B:

1/Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B ly hôn anh Nguyễn Thanh H 2/Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 07/5/2017 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị B:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/4/2023.
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.

Các hội thẩm nhân dân:

1.Bà Huỳnh Thị Thúy Nga

2.Ông Lê Hoàng Phúc.

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Bùi Chí Bảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tốt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 16A/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QD-HPT, ngày 12/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1990

Nơi cư trú: số 45B, tô Vĩnh Diện, tổ 7, khu phố 3, TT.Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1976

Nơi cư trú: số 45B, tô Vĩnh Diện, tổ 7, khu phố 3, TT.Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 20/3/2023; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2023, biên bản tự khai, biên bản không hòa giải được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Nguyễn Thị B trình bày: Chị và anh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc ruộng, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận vào năm 2016. Sau khi kết hôn thì anh chị về tại nhà cha mẹ chị chung sống. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H quan hệ bất chính với người phụ nữa khác. Ngoài ra anh H còn thường xuyên chơi bài bạc. Nay chị xác định không còn tính cảm với anh H, chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

- Về con chung: anh chị có 01 con chung

Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 07/5/2017

Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận.

Về phía bị đơn: Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H không chấp hành nên Tòa án không thể lấy lời khai, cũng như tiến hành hòa giải được.

Theo các biên bản xác minh của Tòa án cũng như các tài liệu có trong hồ sơ, cho thấy chị B và anh H có mâu thuẫn.

- Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng. Bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy HĐXX, xét xử vắng mặt các đương sự là đúng pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và cháu. Vì vậy Hội đồng xét xử nên cho ly hôn

- Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị B được quyền nuôi con: Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 07/5/2017

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B không yêu cầu, vì vậy Hội đồng xét xử không cần phải xem xét trong vụ án này.

- Về tài sản chung, nợ chung: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không phải xem xét trong bản án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2023 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 20/3/2023; Đối với việc vắng mặt của anh H thì anh H biết chị B khởi kiện ly hôn nhưng anh cố tình không có mặt theo sự triệu tập của Tòa. Chứng tỏ anh H đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn Nguyễn Thanh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định của khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.

Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thanh H có đăng ký kết hôn vào ngày 16/6/2016 tại UBND xã Bắc ruộng, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh đến năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là anh chị tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, không tin tưởng lẫn nhau làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Thấy rằng, lời khai của chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị B xác định không còn tình cảm với anh H nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án đã kiên trì triệu tập anh H nhiều lần nhằm mục đích hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng anh H không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều đó chứng minh rằng: anh, không còn tình cảm với chị B và cũng không cần thiết hàn gắn việc hôn nhân gia đình giữa anh và chị B. Tất cả các điều đó cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B là đúng theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Xét thấy chị B là người có sức khỏe, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp thu nhập ổn định và có nguyện vọng trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy Hội xét xử quyết định giao con (Nhật) cho chị B được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo là phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quyền thăm nom con: Để bảo đảm quyền lợi cho các cháu được phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nhận được tình yêu thương đầy đủ từ cả cha lẫn mẹ, cần xem xét tuyên quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi chị B ly hôn với anh H. Anh Nguyễn Thanh H phải chấp hành đúng quy định về việc thăm nom con tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu cấp dưỡng. Vì vậy hội đồng xét xử không cần phải xem xét giải quyết trong bản án này.

Về tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị B là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.

Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56; khoản 2, Điều 81, khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị B:

1/Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B ly hôn anh Nguyễn Thanh H

2/Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 07/5/2017

Anh Nguyễn Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Thnah H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

3/Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0014756 ngày 10/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị B đã nộp đủ án phí DSST.

4/ Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

5/ Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ