vanban.org

Bản án 33/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn T vàbàNguyễnThịV đượclyhôn.

Về nuôi con chung: Không đề cập giải quyết. Về phần tài sản chung: Không đề cập giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tùng _vân"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn T vàbàNguyễnThịV đượclyhôn.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13-6-2023
V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hải và ông Bùi Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hà Trang Quỳnh Huế – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Tòa án huyện Di Linh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T; sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn AA, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V; sinh năn 1984.

Địa chỉ: Thôn XX, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, ông T trình bày như sau:

Ông và chị Nguyễn Thị V sống chung có đăng ký kết hôn ngày 01/6/2011 tại UBND xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoản đầu năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng vợ chồng không phù hợp trong cách suy nghĩ và trong sinh hoạt hàng ngày, một phần vì khó khăn về kinh tế. Từ đầu năm 2016 vợ chồng đã sống ly thân, Ông T ở Thành phố Bảo Lộc, bà V về lại nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại thôn 3 xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Nay không còn yêu thương nên ông T xin ly hôn với bà V. Vợ chồng có một con chung tên Hoàng Văn Nguyên; sinh ngày 20/7/2002 hiện cháu đã lới, khỏe mạnh, đang ở chung với ông T tại Tp Bảo Lộc. Khi ly không yêu giải quyết về việc nuôi con chung. Về phần tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản của vợ chồng. Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là giấy kết hôn và giấy khai sinh của con.

Bà V đã nhận được thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các thông báo, quyết định của tòa án, tuy nhiên không đến làm việc nên Tòa án không ghi được ý kiến trình bày.

Theo biên bản xác minh tại địa phương ngày 04/5/2023 cho thấy, vợ chồng ông T bà V đã ly thân từ lâu. Tòa án xem xét cho vợ chồng được ly hôn là phù hợp.

Do bà V không đến Tòa làm việc, vì vậy Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được, tiến hành họp công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả họp công khai chứng cứ cho các đương sự theo quy định.

Tại phiên tòa: Ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Trước khi xin ly hôn thì ông có gọi điện thoại để trao đổi nhưng bà không nghe, hiện bà V đang sống chung như vợ chồng với người khác đã có con riêng. Tuy nhiên bà không đồng ý đến Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng làm việc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh (VKS) phát biểu: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Đề nghị căn cứ vào Điều 51; 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị V hiện nay đang ở tại thôn 3 xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.

Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa có mặt ông T, vắng mặt bà V lần thứ hai không lý do. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Nội dung tranh chấp.

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà V sống chung có đăng ký kết hôn, vào ngày ngày 01/6/2011 tại UBND xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau kết hôn được 04 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, không tìm được cách giải quyến mâu thuẫn nên đã ly thân từ đầu năm 2016 cho đến nay. Vợ chồng không còn liên lạc với nhau trong suốt thời gian ly thân. Bà V cũng đã có gia đình mới. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung. Cả hai cũng không có phương án và ý định trở về đoàn tụ. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho ông Hoàng văn T và bà Nguyễn Thị V được ly hôn là phù hợp.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung tên Hoàng Văn Nguyên; sinh ngày 20/7/2002. Con chung đã lớn, hoàn toàn khỏe mạnh, có khả năng tự nuôi sống bản thân. Khi Tòa án giải quyết ly hôn, không đề cập giải quyết về con chung là phù hợp.

Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Hoàng Văn T phải chịu là 300.000 đồng án phí xin ly hôn là đúng quy định.

Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147 điểm d khoản 2 Điều 227 và 228; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn T vàbàNguyễnThịV đượclyhôn.

2. Về nuôi con chung: Không đề cập giải quyết.

3. Về phần tài sản chung: Không đề cập giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007180 ngày 17/3/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Di Linh. Ông Hoàng Văn T Thi đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Hoàng Văn T có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị V vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ