- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nông Thị Đ - Đinh Văn N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nông Thị Đ; không công nhận quan hệ giữa chị Nông Thị Đ và anh Đinh Văn N là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HNGĐ-ST Ngày 18/5/2023 “V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng do nam nữ chung sống mà không có đăng ký kết hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Yên và bà Trần Thị Hường.
Thư ký Toà án: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng do nam nữ chung sống mà không có đăng ký kết hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nông Thị Đ, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn TB, xã KB, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Đinh Văn N, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn TB, xã KB, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2023, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hoà giải, nguyên đơn chị Nông Thị Đ trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nông Thị Đ và anh Đinh Văn N qua tự nguyện tìm hiểu đã về chung sống với nhau từ năm 2005 tại thôn TB, xã KB, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Chị Đ và anh N được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo đúng phong tục tập quán tại địa phương, tuy nhiên kể từ đó cho đến nay chị Đ và anh N chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu anh chị chung sống hoà thuận hạnh phúc không có mâu thuẫn gì cho đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Đ đi làm công nhân xa nhà ít có thời gian quan tâm chăm sóc đến gia đình và chồng con, giữa chị Đ và anh N không có sự tin tưởng lẫn nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng xảy ra cãi vã nên đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay. Chị Đ xác định tình cảm giữa chị và anh N không còn, cuộc sống không còn hạnh phúc, do anh chị không đăng ký kết hôn nên yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt quan hệ giữa chị và anh Đinh Văn N theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung là Đinh Thị D, sinh ngày 30/3/2006 và Đinh Thị Minh T, sinh ngày 05/02/2008; chị Đ có nguyện vọng để 02 con cho anh N là người được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung: Chị Nông Thị Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Đ xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản ghi lời khai bị đơn anh Đinh Văn N nêu quan điểm:
- Về hôn nhân: Anh Đinh Văn N và chị Nông Thị Đ qua tự nguyện tìm hiểu đã về chung sống với nhau từ năm 2005 tại thôn TB, xã KB, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo đúng phong tục tập quán tại địa phương, tuy nhiên kể từ đó cho đến nay anh N và chị Đ chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu anh N và chị Đ chung sống hoà thuận hạnh phúc không có mâu thuẫn gì cho đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Đ đi làm công nhân xa nhà ít có thời gian quan tâm chăm sóc đến gia đình và chồng con, tích cách của chị Đ và anh N không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, giữa anh chị thường xảy ra cãi vã nên đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay. Anh N nhất trí với việc khởi kiện của chị Đ, yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ chung sống của anh chị là vợ chồng.
- Về con chung: Có 02 con chung là Đinh Thị D, sinh ngày 30/3/2006 và Đinh Thị Minh T, sinh ngày 05/02/2008, nay ly hôn anh N có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng các con và không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại đơn trình bày ý kiến cháu Đinh Thị D, sinh ngày 30/3/2006 và cháu Đinh Thị Minh T, sinh ngày 05/02/2008 cùng có nguyện vọng được bố là anh Đinh Văn N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi chị Đ và anh N ly hôn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, các đương sự đều giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết tại Tòa án, không có thay đổi hay bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; Điều 143, 144, 147; các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nông Thị Đ, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh N không có giá trị về pháp lý và không được pháp luật công nhận là vợ chồng; về con chung: Giao các cháu Đinh Thị D, sinh ngày 30/3/2006 và cháu Đinh Thị Minh T, sinh ngày 05/02/2008 cho anh Đinh Văn N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nông Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền, nghĩa vụ được đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét; Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nông Thị Đ có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn anh Đinh Văn N, chị Đ và anh N chung sống mà không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng; tranh chấp về nuôi con chung của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đinh Văn N đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn TB, xã KB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nông Thị Đ và bị đơn anh Đinh Văn N đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nông Thị Đ và anh Đinh Văn N tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005 đến nay không có đăng ký kết hôn. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã xác minh tại Ủy ban nhân dân xã KB, huyện Chiêm Hóa (nơi chị Đ và anh N đã sinh sống) xác định chị Đ và anh N chưa từng làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Như vậy, chị Nông Thị Đ và anh Đinh Văn N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005 đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình về đăng ký kết hôn. Mối quan hệ của chị Đ và anh N không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Chị Nông Thị Đ yêu cầu được chấm dứt mối quan hệ giữa chị và anh Đinh Văn N, Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nông Thị Đ, không công nhận quan hệ giữa chị Nông Thị Đ và anh Đinh Văn N là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình sống chung, chị Đ và anh N có 02 con chung là Đinh Thị D, sinh ngày 30/3/2006 và cháu Đinh Thị Minh T, sinh ngày 05/02/2008, hiện nay các con đều đang sống cùng anh N. Khi ly hôn anh N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng sau khi ly hôn. Chị Nông Thị Đ nhất trí để anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Quá trình Toà án ghi lời khai, cháu D và cháu T đều có nguyện vọng được ở cùng anh N sau khi chị Đ và anh N ly hôn. Vì vậy, cần căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao cháu Đinh Thị D và cháu Đinh Thị Minh T cho anh Đinh Văn N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền, nghĩa vụ được đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nông Thị Đ và anh Đinh Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết; do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nông Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh Đinh Văn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nông Thị Đ; không công nhận quan hệ giữa chị Nông Thị Đ và anh Đinh Văn N là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao các cháu Đinh Thị D, sinh ngày 30/3/2006 và cháu Đinh Thị Minh T, sinh ngày 05/02/2008 cho anh Đinh Văn N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nông Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Nông Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Chị Đ đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa theo biên lai số 0006113 ngày 10/02/2023 nay được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm ly hôn (chị Đ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn). Anh Đinh Văn N không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND Tỉnh, huyện - Chi cục THA Dân sự; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã Kim Bình; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Lâm Hạnh Quỳnh |