vanban.org

Bản án 33/2023/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 31/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: [1]. Buộc ông Võ Văn T và bà Lê Thị D phải trả ông Phan Thanh S 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phan Thanh S - Võ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 33/2023/DSST
Ngày: 31/7/2023
V/v “tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Nhị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Thị Thu Thảo

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Nữ Thanh Hường– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện VKSND thành phố C: Bà Ngô Thị N– Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phan Thanh S, sinh năm: 1947

Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1975

Bà Lê Thị D, sinh năm 1974

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/3/2022 vợ chồng ông Võ Văn T và bà Lê Thị D có vay của ông số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, vợ chồng ông T có viết giấy vay cho ông.

Tiếp theo ngày 22/6/2022, vợ chồng ông T tiếp tục vay của ông số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng và cũng viết giấy vay cho ông. Tổng số tiền vợ chồng ông T vay của ông là 350.000.000 đồng. Tuy nhiên sau khi vay đến nay, vợ chồng ông T và bà D không trả tiền lãi cho ông mà hẹn thời gian là 3 tháng sẽ trả tiền, hết thời hạn, ông đã nhiều lần đến đòi tiền nhưng vợ chồng ông T cứ khất hẹn khi nào bán được nhà sẽ trả lại tiền vay cho ông. Sau đó khi vợ chồng ông T bán nhà được 1.100.000.000 đồng thì chỉ trả cho ông 100.000.000 đồng, vẫn còn nợ lại 250.000.000 đồng tiền gốc.

uuw

Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền gốc là 250.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

uuw

* Bị đơn ông Võ Văn T và bà Lê Thị D đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng cố tình vắng mặt không có lý do.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

- Nguyên đơn đã giao nộp: Hợp đồng vay tiền các ngày 14/3/2022 và 22/6/2022 (bản gốc);

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Võ Văn T và Lê Thị D phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 250.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu lãi nên khoog xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Ông Phan Thanh S khởi kiện ông Võ Văn T và bà Lê Thị D về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Yêu cầu của ông S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt 02 lần không có lý do chính đáng nên căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung vụ án: Trong hồ sơ, nguyên đơn ông Phan Thanh S đã xuất trình chứng cứ là 02 hợp đồng vay tiền bản gốc các ngày 14/3/2022 và 22/6/202 có chữ ký người vay là ông Võ Văn T và bà Lê Thị D, nội dung thể hiện ông T và bà bà D có vay ông S 350.000.000 đồng. Ông S xác định vợ chồng ông T và bà D đã trả được cho ông 100.000.000 đồng, hiện vẫn còn nợ 250.000.000 đồng.

Bị đơn ông Võ văn T1 và bà Lê Thị D đã được triệu tập hợp lệ theo quy định pháp luật nhưng cố tình vắng mặt và không nộp văn bản ý kiến đối với yêu cầu của ông S nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai của Nguyên đơn. Việc bị đơn không trả tiền vay cho nguyên đơn làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc gốc là 250.000.000 đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị đơn phải nộp án phí DSST đối với khoản tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng điều 26, điều 35, điều 227, điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

[1]. Buộc ông Võ Văn T và bà Lê Thị D phải trả ông Phan Thanh S 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc.

[2].Về án phí: Ông Võ Văn T và bà Lê Thị D phải nộp 12.500.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

[3]. Quy định: Kể từ ngày ông Phan Thanh S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Võ Văn T và bà Lê Thị D chưa thi hành xong khoản tiền phải trả cho nguyên đơn thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự.

[4].Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án sơ thẩm hoặc từ ngày niêm yết bản án dân sự sơ thẩm.

Cỡ chữ