vanban.org

Bản án 33/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 20/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Điệp phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Trương Văn Điệp 24( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HSST
Ngày 20 - 4 -2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Đông; ông Trần Đức Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với:

+ Bị cáo: Lê Văn H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn 3, xã Quỳnh L, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Bùi Thị T; vợ: Phan Thị Như Qu; con: có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: không; hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Bị hại:

- Công ty cổ phần vận hành và bảo trì đường cao tốc Việt N; địa chỉ: Tổ dân phố Vực V, phường Đồng V, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh S- Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Hồng Ng; có mặt.

- Anh Hồ Trọng Đ, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn 3, xã Quỳnh L, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Anh Chu Văn B, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Lâm Đ, xã Văn T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

- Anh Lê Văn N, sinh năm 1975 (đã chết). Đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Thị S, sinh năm 1947; chị Hồ Thị H, sinh năm 1977; cháu Lê Văn S, sinh năm 1998; cháu Lê Văn H, sinh năm 2002; cháu Lê Thị Quỳnh Á, sinh năm 2006. Đại diện theo ủy quyền: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn 3, xã Quỳnh L, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

*Bị đơn dân sự: Ông Hồ Viết S, sinh năm 1967; địa chỉ: Xóm 2, xã Quỳnh L, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy quyền: Anh Hồ Viết Tr, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm 2, xã Quỳnh L, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An.; vắng mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Anh Đoàn Hữu Nh, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Đại L, xã Hoàng D, huyện Gia L, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

*Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm 6, xã Tân S, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn H có giấy phép lái xe hạng C do Sở GTVT tỉnh Nghệ An cấp, có giá trị đến ngày 16/6/2026. H lái xe thuê cho ông Hồ Viết S.

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06/9/2021, Lê Văn H điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu THACO, loại 6,4 tấn, màu xanh, BKS: 37C - 267.50 chở hàng từ thành phố Hà Nội về tỉnh Nghệ An, cùng ngồi trên ca bin còn có anh Hồ Trọng Đ và anh Lê Văn N.

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 06/9/2021, H điều khiển xe ô tô đi đến Km 216+900 cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình thuộc địa phận phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, trên làn đường dành cho xe cơ giới giáp giải phân cách cứng giữa đường, theo hướng Hà Nội - Ninh Bình, với tốc độ khoảng 85-90 km/h. Cùng lúc này anh Chu Văn B điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu THACO, loại 7,9 tấn, BKS: 34C - 223.31 đang đi phía trước cùng chiều trên làn đường dành cho xe cơ giới giáp với làn đường dừng, đỗ khẩn cấp. Do không tập trung, thiếu chú ý quan sát khi đang lái xe nên H điều khiển xe ô tô BKS: 37C - 267.50 chuyển làn, sang làn đường bên phải, đâm vào phía sau bên trái xe ô tô BKS: 34C - 223.31 đang đi phía trước, khiến xe ô tô 34C - 223.31 lật nghiêng xuống đường, cabin xe ô tô 37C - 267.50 do H điều khiển bị biến dạng, đẩy, ép từ trước về sau, làm anh N bị va đập, chèn áp,tử vong tại chỗ; anh Đ, anh B bị thương nhẹ, 02 xe ô tô, hàng hóa trên xe ô tô 34C - 223.31 và tấm hộ lan bên đường cao tốc bị hư hỏng.

Kiểm tra nồng độ cồn tại thời điểm tham gia giao thông kết quả: Lê Văn H không có nồng độ cồn.

Đối với thương tích của anh Hồ Trọng Đ và anh Chu Văn B: do thương tích nhẹ nên anh Đ, anh B không có yêu cầu đề nghị gì.

Khám nghiệm hiện trường: Tai nạn giao thông tại Km 216+900 Cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ -Ninh Bình thuộc địa phận phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, trên chiều đường Hà Nội - Ninh Bình. Tổ chức giao thông theo hai chiều đường riêng biệt được phân tách bởi dải phân cách cứng giữa hai chiều đường, chiều đường Hà Nội - Ninh Bình được chia thành 02 làn đường xe chạy và 01 làn dừng xe khẩn cấp; có kích thước tính từ trái sang phải lần lượt là: 3,80m; 3,80m và 2,8m. Mốc của hiện trường là bảng số gH Hg/216 được in trên dải tôn hộ lan bên phải đường hướng Hà Nội - Ninh Bình. Các dấu vết và phương tiện đều đo vuông góc vào mép đường phía bên phải hướng Hà Nội - Ninh Bình và được đánh số thứ tự lần lượt từ (1) đến (10). Cụ thể như sau:

Dấu vết (1) là khu vực kính vỡ trên diện kích thước (6,2x2,9)m, nằm trên mặt đường làn dừng xe khẩn cấp; tâm (1) đo vào mép đường chuẩn là 1,45m. Dấu vết (2) là vết trượt kép màu đen chiều hướng Hà Nội - Ninh Bình và có kích thước (33,5x0,5)m; đo điểm gần nhất của đầu dấu vết (2) vào mép đường chuẩn là 8,2m. Dấu vết (3) là vết trượt đơn màu đen, chiều hướng Hà Nội - Ninh Bình, có kích thước (28,8x0,1)m; đầu vết (3) đo vào mép đường chuẩn là 3,2m; cuối vết (3) đo vào mép đường chuẩn là 6,7m. Dấu vết (4) là vết trượt đơn màu đen, chiều hướng Hà Nội - Ninh Bình có kích thước (10,8x0,2)m. Đo từ đầu dấu vết (4) vào mép đường chuẩn là 6,2m; cuối dấu vết (4) nằm tại dải tôn hộ lan phân cách giữa hai chiều đường. Dấu vết (5) là vết mài trượt cong vênh trên dải tôn hộ lan phân cách giữa hai chiều đường, chiều hướng Hà Nội - Ninh Bình, có kích thước (6,7x0,35)m. Dấu vết (6) là tập hợp vết cong xước trên mặt đường, có chiều hướng Hà Nội - Ninh Bình có kích thước (7x7,3)m; đo từ điểm đầu dấu vết (6) vào mép đường chuẩn là 9,00m; cuối dấu vết (6) nằm tại thùng xe ô tô tải 34C - 223.31. Dấu vết (7) là xe ô tô tải 34C - 223.31, bị lật nghiêng bên phải, xe ô tô nằm trên hai làn đường xe chạy, đầu xe hướng làn dừng xe khẩn cấp, đuôi xe hướng dải phân cách giữa hai chiều đường, đo từ tâm trục bánh trước bên phải (7) vào mép đường là 3,6m. Dấu vết (8) là khu vực hộp giầy, hộp nhựa nằm dải rác trên diện kích thước (21,5x4,5)m. Dấu vết (9) là vết xước trượt trên dải tôn hộ lan bên phải đường hướng Hà Nội - Ninh Bình trên diện kích thước (154 x0,35)m. Dấu vết (10) là xe ô tô tải 37C - 267.50, nằm sát, song song với tấm hộ lan bên phải, đầu xe quay về hướng Ninh Bình.

Khám nghiệm phương tiện:

Xe ô tô BKS: 34C - 223.31: Ốp nhựa bảo vệ ba đờ sốc phía trước bị bung bật ra khỏi vị trí ban đầu, để lộ các ốc bắt giữ mảnh nhựa trên diện KT (195x29)cm. Đèn xương mù phía trước bên trái đầu xe bị bung bật, nứt vỡ khỏi vị trí ban đầu trên diện KT(20x11)cm. Đèn xương mù phía trước bên phải có diện bị nứt tách, bung bật khỏi vị trí ban đầu treo trên dây bóng đèn KT(20x11)cm. Cụm đèn pha, xi nhan bên phải của xe bị vỡ tách KT(36x34)cm để lộ các bóng đèn dây điện trong cụm đèn pha này có điểm mài sạt rách cao su bám dính bột đá KT(8x4,5)cm. Kính chắn gió phía trước của xe bị nứt tách KT(186x80)cm. Toàn bộ gương chiếu hậu phía trước bên phải bị bật rời khỏi vị trí ban đầu. Mặt ngoài cửa xe bên phải có diện bị mài sạt bong tróc sơn KT(37x10)cm hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Mặt ngoài tấm kim loại bảo vệ cụm đèn pha bên phải phía trước đầu xe có diện mài sạt bong tróc sơn và kim loại trên diện KT(22,5x5,5)cm. Ốp nhựa bảo vệ chân gương bên phải phía trước của xe có diện bị mài sạt cắt kim loại KT(116x150)cm. Chắn bùn bánh xe bên phải phía trước của xe bị mài sạt bám dính chất màu nâu nghi bụi đất KT(118x55)cm trên chắn bùn này bị nứt vỡ nhựa KT(20x10)cm. Toàn bộ các thanh kim loại của thùng xe bên phải bị cong, vênh, bẹp méo. Các tấm kim loại bên phải của thùng xe có các dấu vết mài cắt thủng kim loại. Lọc gió bên trái dưới gầm thùng xe KT(40x40)cm bị cong vênh bung bật tấm lưới bảo vệ mặt ngoài hướng từ dưới lên trên. Cạnh ngoài lốp xe phía sau bên phải bị mài sạt cao su toàn bộ cạnh ngoài. Cạnh ngoài bên trái bẩng xe có diện mài sạt kim loại có diện bong tróc sơn bám dính chất màu xanh nghi sơn KT(55x37)cm. Mặt ngoài phía sau thùng xe có diện bị mài sạt bong tróc sơn bám dính chất màu xanh nghi sơn KT(63x21,5)cm. Tại chốt bắt giữ của bẩng xe phía sau với thùng xe bị mài sạt sơn bám dính chất màu xanh nghi sơn KT(10x6)cm. Cạnh ngoài thanh kim loại thùng xe bị mài sạt kim loại bong tróc sơn, bẹp méo bám dính chất màu xanh nghi sơn KT(37,5x5)cm. Cụm đèn xin nhan, đèn hậu phía sau bên trái của xe bị vỡ tách để lộ bóng điện KT (35x14)cm bung bật khỏi vị trí ban đầu. Khung kim loại bảo vệ đèn xin nhan, đèn hậu phía sau bên trái của xe bị bẹp méo, mài sạt kim loại, đẩy từ sau về trước KT(42x21)cm hướng từ sau về trước. Giá ba đờ sốc phía sau của xe bị bung bật khỏi vị trí ban đầu tại thanh kim loại bên trái bắt giữ ba đờ sốc có điểm bị cong vênh đẩy lùi vào trong KT (50x13)cm hướng từ sau về trước.

Xe ô tô BKS: 37C - 267.50: Cạnh ngoài nắp cabin bị bẹp méo phía trong KT(60x37)cm trên diện này bị bong tróc sơn bám dính chất màu xanh KT(25x26)cm. Kính chắn gió phía trước đầu xe bị vỡ, bật khỏi vị trí ban đầu. Tấm kim loại bảo vệ ba đờ sốc phía trước đầu xe bị bẹp méo, đứt trong làm hư hỏng các dây điện, máy, phần đầu của xe hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất đo cách mặt đất 117cm. Dây la răng mặt kính bị bật khỏi vị trí ban đầu treo trên cần gạt nước của xe. Gương chiếu hậu, bên ghế lái bị bật khỏi vị trí ban đầu. Ốp nhựa bảo vệ xi nhan phía trước bên trái của xe bị vỡ để hở bóng đèn bên trong KT(20x15)cm. Khung cửa bên phải của xe bị bẹp méo, biến dạng KT(103x116)cm, trên khung cửa này kính chắn gió bị vỡ, bung bật khỏi vị trí ban đầu để hở các mảnh kính trên song cửa kính. Mặt gương lồi bên phải của xe bị bật khỏi vị trí ban đầu. Cụm đèn pha chiếu sáng, đèn xi nhan phía trước bên phải xe bị vỡ để hở các bóng đèn trên diện KT(34x38)cm. Giá để chân bên phải của xe bị đẩy về phía trước khỏi vị trí ban đầu KT(40x25)cm hướng từ sau về trước. Ốp nhựa bảo vệ giá để chân này có diện nứt tách, mài sạt nhựa KT(23,5x11)cm. Lọc gió phía trước đầu xe bẹp méo, cong vênh KT(38x30)cm, cạnh ngoài của thanh kim loại giữ lọc gió có điểm mài sạt kim loại bám dính, chất màu nâu nghi gỉ sắt, KT (5,5x2)cm. Ốp nhựa bảo vệ ba đờ sốc phía trước có diện bị mài cắt bám dính chất màu đen, nghi cao su KT(40x6,5)cm. Chắn bùn bánh trước bên phải của xe bị bẹp méo, gãy để lộ phần nhựa máy bên trong KT(90x54)cm hướng từ trước về sau. Toàn bộ ca bin của xe bị đẩy ép sát với ghế lái và ghế phụ của xe hướng từ trước về sau. Ốp nhựa bên phải ghế phụ của cabin này bị vỡ tách bung bật khỏi vị trí ban đầu để lộ ra các dây điện, thiết bị máy của xe KT(65x52)cm. Ghế phụ của xe bị rách, vỏ bọc cao su để lộ ra tấm xốp đệm có KT(80x45)cm. Trên mặt ghế phụ xe phát hiện các mảnh vỡ nhỏ trên diện KT (50x56)cm. Sàn để chân phụ có các mảnh vỡ KT(85x55)cm trên mặt này phát hiện có các miếng xốp bám dính chất màu đỏ nghi máu. Ốp kim loại bảo vệ phần máy phía trước bị bẹp méo, biến dạng KT(86x30)cm, bề mặt của ốp kim loại này có nhiều mảng kính vỡ KT(54x12)cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 104/21/TT ngày 30/9/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam, kết luận: Chấn thương ngực kín: Sây sát da và bầm tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng trước ngực. Gãy xương ức, gãy cung trước nhiều xương sườn hai bên. Hố ngực chứa nhiều máu, dập, rách và bầm tụ máu hai phổi. Chấn thương bụng kín: Sây sát da bụng, ổ bụng chứa nhiều máu. Vỡ gan, lách. Chấn thương chi: Sây sát, rách da và gãy hở hai xương cẳng chân trái. Nguyên nhân dẫn đến tử vong của nạn nhân Lê Văn N là do suy hô hấp cấp và mất máu cấp, hậu quả của đa chấn thương nặng.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐ ngày 14/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Duy Tiên: Thiệt hại hư hỏng của xe ô tô tải nhãn hiệu THACO BKS: 34C - 223.31 là 54.499.500 đồng. Số hàng hóa trên xe ô tô BKS: 34C - 223.31 bị hư hỏng, thiệt hại là 5.220.000 đồng. Thiệt hại hư hỏng tấm hộ lan bảo vệ tại Km 216+900 cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình thuộc địa phận phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên là 20.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 79.719.500 đồng.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ: 01 xe ôtô tải THACO BKS: 37C - 267.50; 01 đăng ký xe ôtô, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm, 01 Giấy chứng nhận kiểm định đều của xe ôtô 37C - 267.50. 01 Giấy phép lái xe hạng A1, C mang tên Lê Văn H. 01 xe ô tô tải THACO BKS: 34C - 223.31; 01 đăng ký xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm đều của xe ô tô 34C - 223.31, 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Chu Văn B. Đã xử lý trả lại chiếc xe ô tô tải BKS: 34C - 223.31 kèm theo giấy tờ của xe ô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đoàn Hữu Nh. Trả lại chiếc xe ô tô tải BKS: 37C - 267.50 kèm theo giấy tờ của xe ô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hồ Viết S và trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C cho anh Chu Văn B.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn H đã tham gia bồi thường cho gia đình bị hại Lê Văn N số tiền 230.000.000 đồng; bồi thường cho anh Đoàn Hữu Nh là chủ xe ô tô BKS: 34C - 223.31 số tiền 60.000.000 đồng và bồi thường cho Công ty cổ phần vận hành và bảo trì đường cao tốc Việt N số tiền 20.000.000 đồng.

Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 18/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1, C mang tên Lê Văn H và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Người đại diện của bị hại không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 06/9/2021 tại km 216+900 cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình thuộc địa phận phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Lê Văn H có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô tải BKS: 37C - 267.50 chở anh Hồ Trọng Đ và anh Lê Văn N, do thiếu chú ý quan sát, khi chuyển làn xe không đảm bảo an toàn, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy phía trước, đã đâm vào phía sau xe ô tô tải 34C - 223.31 do anh Chu Văn B điều khiển đi phía trước cùng chiều, dẫn đến phần ca bin xe ô tô 37C - 267.50 bị biến dạng, đẩy ép vào người anh N. Hậu quả: Anh N tử vong tại chỗ.

Hành vi nêu trên của Lê Văn H gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo vi phạm Điều 12; 13 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người và thiệt hại tài sản trị giá 79.719.500đ đủ yếu tố cấu thành tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại; được người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình người bị hại đã nhận tiền bồi thường, nay không có ý kiến gì; các đương sự khác không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, C mang tên Lê Văn H cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Lê Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/4/2022).

Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng A1, C mang tên Lê Văn H do Sở GTVT tỉnh Nghệ An cấp.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, Công ty cổ phần vận hành và bảo trì đường cao tốc Việt N có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Hà Nam;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;

- VKSND thị xã Duy Tiên;

- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;

- Bị cáo, người tham gia tố tụng;

- Lưu HSVA.

TRẦN NGỌC THUẬN

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: năm 2017 bị cáo có 01 tiền sự nhưng đã được xóa tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại; được người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình được địa phương xác nhận; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là: điều khiển xe mô tô đi không đúng làn đường nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình người bị hại đã nhận tiền bồi thường. Nay không ai có ý kiến gì; các đương sự không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã xử lý nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố bị cáo Đỗ Như Quỳnh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

* Xử phạt: Đỗ Như Quỳnh 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Như Quỳnh cho Ủy ban nhân dân xã Phương Chiểu, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Đỗ Như Quỳnh phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Hà Nam;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;

- VKSND thị xã Duy Tiên;

- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;

- Bị cáo, người tham gia tố tụng;

- Lưu HSVA.

TRẦN NGỌC THUẬN

Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 03/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Tiến Hải từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000đ; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe. Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 14/12/2020, tại tổ dân phố Đồng Văn, phường Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Lê Tiến Hải có hành vi tàng trữ trái phép 09 gói ma túy là Heroine, có tổng khối lượng 0,751 gam, để sử dụng thì bị Công an phường Đồng Văn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy vì vậy cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 di động viettel; 260.000đ không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo. Đối với xe mô tô 53V4-8291 và đăng ký của xe là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến Hải phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Tiến Hải 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000đ (Hai trăm sáu mươi ngàn đồng).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe.

Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên. Riêng số tiền được chuyển qua tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lê Tiến Hải phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Đ iều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Hà Nam;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;

- Công an thị xã Duy Tiên;

- VKSND thị xã Duy Tiên;

- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;

- Bị cáo; người có QLNVLQ;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Trần Ngọc Thuận

Từ nhận định trên, HĐXX nhận thấy bị cáo là một người nghiện ma túy nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi xã hội đủ để bị cáo có thời gian cai nghiện, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Do không xác định được là của ai, ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, xác định đây là vật chứng cấm lưu hành liên quan đến vụ án nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Điệp; số tiền 77.000 đồng. Qua đấu tranh xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Điệp phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Trương Văn Điệp 24( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2020.

2. Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

Trả lại cho bị cáo Trương Văn Điệp: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Điệp và số tiền 77.000đ (Bẩy mươi bẩy nghìn) đồng.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 01/12/2020).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trương Văn Điệp phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ