vanban.org

Bản án 33/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 08/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "pUI aL - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HSPT
Ngày 08-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA L

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiên

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

-Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Vương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh GIA L.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh GIA L tham gia phiên tòa: Ông Cáp Văn Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh GIA L, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 19/2022/TLPT-HS ngày 04 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Puih AL do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh GIA L.

*Bị cáo có kháng cáo:

Puih ALôm, sinh năm 1965 tại tỉnh GIA L; trú tại: làng G, xã Ia Gg, huyện Ia , tỉnh GIA L; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: không đi học; dân tộc: Jrai; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Puih A (chết) và bà Puih M(chết); vợ là Puih B, sinh năm 1971 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch: Bà Nay Hyan. Công tác tại Ủy ban nhân dân xã An P, thành phố P, tỉnh GIA L. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời khoảng gian từ đầu tháng 02/2021 Puih AL đã dùng dao và mượn cưa lốc của ông Puih M vào khu vực lô 3,4,7 khoảnh 7, tiểu khu 279 thuộc rừng phòng hộ Bắc Ia G, xã Ia B, huyện G, tỉnh GIA L chặt phá cây rừng nhằm mục đích lấy đất trồng mì. Ngày 19/02/2021 bị lực lượng Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia G phát hiện. Ngày 05/3/2021 các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định diện tích đất rừng bị Puih AL chặt phá là 9.612m2, tọa độ OX 424716; OY 1549233. Hầu hết các cây rừng bị chặt phá, còn lại gốc chặt, cành nhánh chưa dọn đốt, đường kính các gốc chặt từ 45-135cm, chiều cao gốc chặt từ 11-30cm; chủng loại cây bị chặt là Cám, Soan đào, SP6.

Tại bản kết luận giám định tư pháp ngày 12/5/2021 kết luận: Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh phục hồi; rừng sản xuất; hệ số điều chỉnh thiệt hại về môi trường, chức năng sinh thái của rừng bằng 03 đối với rừng tự nhiên là rừng sản xuất; thiệt hại gỗ lớn, nhỏ là 1,460m3, gỗ tận dụng 0,124m3 và 0,177 Ster củi.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HDĐGTS ngày 03/8/2021 xác định: 1,460m3 gỗ lớn nhỏ, 0,124m3 gỗ tận dụng và 0,177 Ster củi trị giá 2.256.560đ. Thiệt hại về môi trường là 7.579.680đ.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm 01 dao rựa dài 61cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 29cm.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia G, tỉnh GIA L đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Puih AL phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Puih AL 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp tiền án phí và quyền kháng cáo bị cáo theo luật định.

3. Kháng cáo của bị cáo

Ngày 26/01/2022 bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định trong khoảng thời gian từ đầu tháng 02/2021 đến ngày 19/02/2021 bị cáo sử dụng dao rựa và cưa lốc vào khu vực lô 3,4,7 khoảnh 7, tiểu khu 279 tại xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh GIA L chặt phá cây rừng trái phép trên diện tích 9.612m2 nhằm mục đích lấy đất làm nương rẫy. Diện tích rừng do bị cáo chặt phá thuộc quy hoạch rừng sản xuất của Ban quản lý rừng Phòng hộ Bắc Ia G. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Ia G, tỉnh GIA L xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội; bị cáo đã có hành vi phá 1,460m3 gỗ lớn nhỏ , 0,124m3 gỗ tận dụng và 0,177 Ster củi trị giá 2.256.560đ. Thiệt hại về môi trường là 7.579.680đ. Khi xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo, tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra ngày càng nhiều và diện tích lớn tại nhiều địa phương trong tỉnh GIA L. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần xử phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền 10.106.000 đồng theo Phiếu thu ngày 11/3/2022 của Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia G, bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho thấy bị cáo thực sự ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, gia đình bị cáo có ông nội và cha có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Puih A Lôm.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Puih ALôm. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 04/2022/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh GIA L về phần hình phạt.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Puih AL 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Hủy hoại rừng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Bị cáo Puih AL không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./

Cỡ chữ