- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Phạm Đình C 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HS-ST Ngày 10- 6 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Hưng và ông Dương Đình Rồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Bà Ngô Diệu Thanh- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2022 tại Nhà văn hóa tổ dân phố Xộp, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đình C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 7 năm 1975 tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: xóm Bình Định 3, xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Tuất và bà Mai Thị Tích; có vợ Nguyễn Thị Thanh; có 03 con chung; con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: bản án số 162/2013/HSST ngày 15/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; Tháng 01/2017 bị Công an xã Bình Sơn, thành phố Sông Công xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã nộp phạt ngày 16/02/2017); bản án số 09/2018/HSST ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt C 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công từ ngày 13/02/2022 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố Trước, phường L, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 13/02/2022, Tổ công tác Công an xã Bình Sơn, thành phố Sông Công đang tuần tra, kiểm soát tại khu vực cầu treo thuộc xóm Bình Định 3, xã Bình Sơn, TP Sông Công thì phát hiện Phạm Đình C đang điều khiển xe mô tô DETECH ESPERO 50C3R, biển kiểm soát 20AA- 096.87, có biểu hiện Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác kiểm tra thì C tự giác lấy ra từ khu vực bao tải màu trắng đang để ở giá chở hàng xe máy 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy), 01 xi lanh nhựa màu trắng chưa qua sử dụng, 01 ống nước cất nhãn hiệu Novocain chưa qua sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi ma túy, 01 xi lanh nhựa màu trắng chưa qua sử dụng, 01 ống nước cất nhãn hiệu Novocain chưa qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH ESPERO 50C3R, biển kiểm soát 20AA- 096.87 và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công tiến hành trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Đình C. Tại bản Kết luận giám định số: 400/KL-KTHS ngày 22/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine có khối lượng 0,159gam.
Quá trình điều tra bị can Phạm Đình C khai: C là người nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/02/2022, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 20AA-096.87 đi đến khu vực cầu treo xóm Bình Định, xã Bình Sơn, gặp một người đàn ông khoảng 27 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ), C hỏi mua ma túy thì được người này đồng ý, C đưa tiền 50.000 đồng thì được người đàn ông trên bán cho 01 xi lanh nhựa, 01 ống nước cất, 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (là ma túy, loại Heroine), C cất ma túy vào bao tải để phía trước yên xe mô tô rồi điều khiển xe về nhà, khi đi về đến cầu treo thuộc xóm Bình Định 3, xã Bình Sơn, TP Sông Công thì bị Tổ công tác Công an xã Bình Sơn, thành phố Sông Công bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu A2 bên trong có chứa 0,137 gam mẫu A2 còn lại sau sau giám định và vỏ bao mẫu, 01 bì niêm phong kí hiệu A3 bên trong có chứa vỏ bì niêm phong kí hiệu A1. 01 bì niêm phong kí hiệu A21 bên trong có chứa 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất NOVOCAIN đều chưa qua sử dụng được chuyển bảo quản theo đúng quy định về quản lý vật chứng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH ESPERO 50C3R BKS 20AA- 096.87 là của cháu Phạm Hà Vi, không liên quan đến hành vi phạm tội của C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công đã trả lại cho cháu Phạm Hà Vi quản lý, sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 32/ CT-VKS ngày 06/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Đình C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo C về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong kí hiệu A2 bên trong có chứa 0,137 gam mẫu A2 còn lại sau sau giám định và vỏ bao mẫu, 01 bì niêm phong kí hiệu A3 bên trong có chứa vỏ bì niêm phong kí hiệu A1, 01 bì niêm phong kí hiệu A21 bên trong có chứa 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất NOVOCAIN đều chưa qua sử dụng. Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 13/02/2022, tại xóm Bình Định 3, xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Đình C đang tàng trữ trái phép 0,159 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Bình Sơn, thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật như sau:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine , …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo có 03 nhân thân, trong đó 02 lần bị xét xử, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội nhưng lối sống buông thả, không chịu tu dưỡng bản thân nên đã vướng vào tệ nạn ma túy. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy, C khai mua tại khu vực cầu treo thuộc xóm Bình Định 3, xã Bình Sơn, Thành phố Sông Công của một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ nên không có cơ sở xác minh, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS; Tuyên bố bị cáo Phạm Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt: Phạm Đình C 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2022.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A2, bên trong chứa 0,137 gam mẫu A2 còn lại sau sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong bì ký hiệu A2; 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A3 bên trong chứa vỏ bì niêm phong kí hiệu A1; 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A21 bên trong có 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN chưa sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2022 giữa Công an thành phố Sông Công và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Cơ quan THAHS TP Sông Công; - Chi cục THADS TP Sông Công; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, người TGTT khác; - Lưu: HS; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Lan Anh |