- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TAND THÀNH PHỐ L TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HS-ST Ngày 25-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Liên
Bà Nguyễn Lệ Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 25/5/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Tr; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1970 tại tỉnh L; Nơi ĐKHKTT: Bản Ph, xã San T, thành phố L, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Trần Văn S (đã chết) con bà Trần Thị B (đã chết); Họ và tên vợ: Đào Thị P (đã ly hôn năm 2015) và có 01 con sinh năm 2006; Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ ba; Tiền sự: không; Tiền án: Năm 2001 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ xử phạt 64 tháng tù về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy, tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội: Trốn khỏi nơi giam. Năm 2006 bị cáo chấp hành xong hình phạt. Ngày 01/02/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ xử phát 07 năm 06 tháng tù về tội: tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm p khoản 2 Điều 194 (tái phạm nguy hiểm) của Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 15/5/2019 Trần Văn Tr chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích. Về nhân thân: Năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh P, tỉnh Thái B xử phạt 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Năm 2008 chấp hành xong hình phạt. Năm 2009 bị Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh L xử phạt 30 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Năm 2011 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2021 đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh L. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 19 giờ 20 phút, ngày 26/12/2021, Tổ công tác của cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý - Công an thành phố L phối hợp với Công an xã San T làm nhiệm vụ tại bản P, xã San T, thành phố L, tỉnh L thì phát hiện Trần Văn Tr có biểu hiện nghi vấn phạm tội, qua kiểm tra Trần Văn Tr tự giác lấy từ trong túi bên trái áo khoác đang mặc giao nộp cho tổ công tác 02 gói chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh. Theo Tr khai 02 gói đó là Heroine của Tr tàng trữ để sử dụng.
Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để điều tra, làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn Tr khai nhận: Nguồn gốc số heroine bị thu giữ là do Trần Văn Tr mua được của một người phụ nữ dân tộc mông khoảng 35 đến 40 tuổi (Tr không biết họ tên, địa chỉ) vào trưa ngày 26/12/2021 tại khu vực bản Chin Chu C, xã San T, thành phố L, tỉnh L với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroine cất vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi đi bộ đến đồi chè thuộc khu vực bản Phan Lìn, xã San T, thành phố L, tỉnh L lấy một gói ma túy ra dùng tay cấu một ít sử dụng. Số còn lại Tr gói lại như cũ cho lại vào túi áo khoác đang mặc đi bộ về nhà. Trên đường về thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang.
Các vấn đề khác của vụ án:
Kết luận giám định số: 44/KLGĐ ngày 27/12/2021 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn Tr trong quá trình bắt quả tang ngày 26/12/2021 có tổng khối lượng là 0,7 gam.
Kết luận giám định số: 62/GĐ-KTHS ngày 29/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: 02 (hai) Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1, M2) gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Quá trình điều tra xác định: Ngày 01/02/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phát 07 năm 06 tháng tù về tội: tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm p khoản 2 Điều 194 (tái phạm nguy hiểm) của Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 15/5/2019 Trần Văn Tr chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích.
Cáo trạng số: 14/CT-VKSTP ngày 15/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Trần Văn Tr về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Tr phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Tr từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2021. Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ một phong bì niêm phong được làm bằng một phong bì công văn của Công an thành phố L (Theo hồ sơ bên trong là vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của Trần Văn Tr trong quá trình bắt quả tang ngày 26/12/2021). Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các quyết định nêu trên.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, các Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, kết luận giám định … được xem xét và tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 19 giờ 20 phút, ngày 26/12/2021, tại đường dân sinh thuộc khu vực bản P, xã San T, thành phố L, tỉnh L, Trần Văn Tr đang tàng trữ trái phép 0,7gam Heroine ở trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Trần Văn Tr là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Trước đó, tại Bản án số 84/2013/HSST ngày 01/02/2013 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 (tái phạm nguy hiểm) của Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 15/5/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, trong lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo và quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân của bị cáo: Năm 2001 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ xử phạt 64 tháng tù về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy, tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội: Trốn khỏi nơi giam. Năm 2006 bị cáo chấp hành xong hình phạt; Năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh P, tỉnh Thái B xử phạt 12 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Năm 2008 chấp hành xong hình phạt. Năm 2009 bị Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh L xử phạt 30 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Năm 2011 chấp hành xong hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để bị cáo có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,7 gam Heroine Cơ quan điều tra đã trích đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Đối với 02 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong trong quá trình bắt quả tang đối với Trần Văn Tr, ngày 26/12/2021 là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các vấn đề liên quan: Quá trình điều tra, theo lời khai của Trần Văn Tr, nguồn gốc 0,7 gam Heroine mà bị cáo bị thu giữ là do mua của một người phụ nữ dân tộc Mông, cơ quan điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xác minh, làm rõ vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.
Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn Tr 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2021.
3. Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của Trần Văn Tr trong quá trình bắt quả tang ngày 26/12/2021.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2022 giữa Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND tỉnh L; - Công an TP L; - VKSND TP L; - Chi cục THADS TP L; - Sở tư pháp tỉnh L; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tòng Thị Tuyết |