vanban.org

Bản án 33/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn Q phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn Q - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn Q phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HS - ST
Ngày 17/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễ n Xuân Nam

2. Bà Lục Thị Xinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đứ c Chí nh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2022/TLST - HS ngày 13/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST- HS ngày 03/8/2022 đối với bị cáo:

Bàn Văn Q ; sinh năm 1975; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; trình độ học vấn: Lớp 5/10; dân tộ c: Dao; tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàn Văn T và bà Bàn Thị L; vợ : Đặng Thị Đ; con: Có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khởi nơi cư trú từ ngày 30/5/2022 đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Bàn Văn Q: Bà Hoàng Thị Thu H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn (Theo Quyế t đị nh số 179/QĐ- TGPL ngà y 01/6/2022 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn về việ c cử trợ giú p viên phá p lý tham gia tố tụ ng). Có mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn . Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụ ng : Ông Lục Văn C – Phó Trưởng phòng N huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Theo văn bản ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ma Thị H, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn Bản T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/7/2021, Trạm kiểm lâm B phối hợp với UBND xã B tiến hành kiểm tra phát hiện một phần diện tích rừng tại lô 1, khoảnh 2, tiểu khu 333 thuộc thôn Bản T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn của hộ gia đình bà Ma Thị H, trú tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn được Ủy ban nhân dân huyện C giao khoán, bảo vệ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 386525 ngày 06/01/2009 bị phát phá trái phép toàn bộ các cây tự nhiên. Qua đo đạc sơ bộ ban đầu xác định được tổng diện tích rừng bị phát phá là 11.930m2 thuộc quy hoạch rừng sản xuất, trạng thái rừng tự nhiên. Qua xác minh ban đầu xác định Bàn Văn Q là người có hành vi phát phá vào khoảng tháng 5 năm 2021, với mục đích lấy mặt bằng để trồng cây để phát triển kinh tế.

Ngày 16/12/2021, Hạt kiểm lâm huyện C đã tiến hành bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn để tiến hành điều tra theo quy định.

Ngày 30/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng và những người có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường. Qua khám nghiệm xác định tổng diện tích rừng bị phát phá trái phép tại lô 1, khoảnh 2, tiểu khu 333 thuộc thôn B, xã B, huyện C là 10.120m2. Tổng số lâm sản bị thiệt hại qua kiểm đếm tại hiện trường xác định được là 12 gốc cây tự nhiêncác loại từ nhóm V đến nhóm VIII và 5.300 cây vầ u (Đếm theo phương pháp lập ô tiêu chuẩn). Trên diện tích rừ ng bị phát phá đã trồng mới loại cây mỡ chiều cao trung bình khoảng 0,50m đến 0,80m. Đối chiếu với bản đồ quy hoạch 03 loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn và Quyết định số 278/QĐ-UBND ngày 08/02/2021 của UBND huyện Chợ Đồn về công bố hiện trạng rừng năm 2020 trên địa bàn huyện Chợ Đồn thì phần diện tích rừng bị phá tại lô 1, khoảnh 2, Tiểu khu 333 được quy hoạch là rừng sản xuất, trạng thái rừng hỗn giao TN-G tự nhiên núi đất HG2.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn kết luận: 5.300 cây vầu tại thời điểm tháng 5 năm 2021 có trị giá là 12.624.000 đồ ng, trong đó 1.820 cây có đường kính từ 3cm-5cm có trị giá 2.184.000 đồ ng, 3.480 cây có đường kính 6cm - 9cm có trị giá 10.440.000 đồ ng. Riêng đối với 12 gốc cây gỗ tự nhiên các loại từ nhóm V đến nhóm VIII, do đã bị đố t chá y hế t nên không xá c đị nh và không tiế n hà nh đị nh giá đượ c.

Tiến hành xác minh Bà Ma Thị H khai nhận: Năm 2009 gia đình bà được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 386525 ngày 06/01/2009 tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn với diện tích là 46.173m2, đất rừng sản xuất. Ngày 07/11/2018 bà đã chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất trên cho ông Bàn Văn Q với số tiền 4.000.000 đồ ng, hai bên chỉ làm giấy viết tay chuyển nhượng, chưa ra UBND xã đề nghị chuyển đổi tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện trạng khu rừng bà được cấp sổ là rừng có cây vầu, cây giang, cây nứa, cây chuối và một số cây tự nhiên với nhiều chủng loại và kích thước khác nhau.

Quá trình điều tra, truy tố Bàn Văn Q khai nhận: Khu đấ t rừ ng vớ i diện tích là 46.173m2, loại đất rừng sản xuất tại lô 1, khoảnh 2, tiểu khu 333 thuộ cthôn B, xã B đượ c Q mua lại với bà Ma Thị H vào năm 2018, Q chưa làm thủ tục sang tên. Khoảng đầu tháng 5 năm 2021, Q dùng dao chặt hạ các loại cây như cây vầu, cây nứa và một số loại cây rừng tự nhiên có nhiều kích thước và chủng loại khác nhau nhằm mục đích lấy mặt bằng để trồng cây. Sau khoảng 03 ngày thì Q phát xong toàn bộ các cây rừng tự nhiên có diện tích 10.120m2 , đến khoảng cuối tháng 5 năm 2021 Q mớ i dọn, đốt toàn bộ các cây rừng tự nhiên mà Q đã chặt phá, sau đó trồng cây mỡ thay thế trên toàn bộ diện tích rừng đã phát phá. Đến ngày 16/7/2021 thì bị Cơ quan chức năng phát hiện, lập biên bản về việc phát phá rừng trái phép. Ngày 06/7/2022, Bàn Văn Q đã tự nguyện nộp vào Chi cục THADS huyện Chợ Đồn số tiền 8.000.000 đồ ng theo Biên lai thu tiền số 0001284 để bồi thường thiệt hại.

Về vật chứng: Quá trình điều tracơ quan cả nh sá t điề u trađã thu giữ 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, dài 45cm (phần thân dao dài 27cm, chuôi dao bằng gỗ dài 18cm), chiều rộng 05cm của Bàn Văn Q sử dụng để phát phá diện tích rừng trái phép. Hiện đang được tạm giữ tại kho vật chứng Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n Chợ Đồn chờ xử lý. Đối với số lâm sản bị chặt phá trên diện tích rừng mà Bàn Văn Q phát phá trái phép, do đã đốt cháy hếtnên quá trình điều tra không xác định vàthu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lục Văn C - Phó Trưởng phòng N là người đại diệ n củ a Nguyên đơn dân sự UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn tham gia tố tụng có đơn đề nghị xử lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu Bàn Văn Q bồi thường thiệt hại số tiền 12.624.000 đồ ng theo kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn.

Tại bản cáo trạng số 29/CT - VKSCĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Bàn Văn Q về tội“Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bàn Văn Q phạm tội “Hủy hoại rừng”. Về hình phạt đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; Điề u 38; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Văn Q 03 năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm; Hình phạt bổ sung: Đề nghị k hông xử phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o ; về trách nhiệm dân sự đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộ c bị cá o phả i bồ i thườ ng thiêt hạ i về tà i sả n cho Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn

vớ i số tiề n 12.624.000 đồ ng, trong đó : Ghi nhậ n bị cá o đã nộ p số tiề n bồ i thườ ng 8.000.000 đồ ng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn , bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho nguyên đơn dân sự số tiề n cò n lạ i là 4.624.000 đồ ng; về vậ t chứ ng đề nghị á p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu hóa tiêu hủ y 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại là công cụ dùng vào việc phát phá rừng trái phép; về án phí đề nghị miễ n toà n bộ á n phí cho bị cá o.

Tại phiên tò a người bào chữa có quan điể m thố ng nhấ t vớ i đề nghị của đại diện Viện kiểm về tộ i danh , các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại, xử lý vậ t chứ ng, án phí và về hình phạt. Ngoài ra ngườ i bà o chữ a đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến bị cáo là người dân tộc thiểu số , nhậ n thứ c phá p luậ t hạ n chế và sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn khi lượ ng hì nh.

Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn dân sự ông Lụ c Văn C yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về lâm sả n cho Ủ y ban nhân dân huyệ n Chợ Đồ n vớ i tổ ng số tiề n 12.624.000 đồ ng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cá o.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ma Thị H và bà Đặng Thị Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt , nộ i dung đơn đều thể hiệ n không có yêu cầ u gì.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n đã

đượ c tranh tụng tại phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n định như sau:

[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Chợ Đồn, Điề u tra viên, Việ n kiể m sá t huyệ n Chợ Đồn, Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngư ời tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyế t đị nh củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng và người tiến hành tố tụng . Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hành tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thờ i gian tháng 5 năm 2021 bị cáo Bàn Văn Q có hành vi dùng dao phát phá trái phép rừ ng vớ i diệ n tí ch 10.120m2 tại lô 1, khoảnh 2, tiểu khu 333 thuộc thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đượ c quy hoạchrừ ng sả n xuấ t, trạng thái là rừng hỗn giao tre nứa – gỗ tự nhiên nú i đấ t (HG2), gây thiệ t hạ i về lâm sả n gồ m 12 gốc cây thân gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII và 5.300 cây vầ u.

Hành vi phát phá rừ ng trái phép vớ i diệ n tí ch10.120m2 nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 29/CT – VKSCĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố bị cá o là có căn cứ .

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến hoạt động quản lý bảo vệ rừ ng củ a Nhà nướ c, gây ả nh hưở ng đế n công tá c phá t triể n và bả ovệ rừng trên địa bàn. Do đó cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để đảm bảo giáo dục bị cáo đồng thời để đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung trong cộng đồng dân cư trên địa bàn.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo , ăn năn hối cải, sau khi phát phá rừng trái phép bị cáo đã tự nguyện trồng cây mỡ trên toàn bộ diện tích rừng phát phá và đã nộp một khoản tiền tại Chi cục thi hành án dân sự để để bồ i thườ ng thiệ t hạ i và khắc phục hậu quả xảy ra nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Bàn Văn T được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và tại phiên tòa người đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoả n 2 Điề u 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy đị nh tạ i khoản 4 Điề u 243 Bộ luậ t hì nh sự quy đị nh thì người phạm tội cò n có thể bị phạt tiền từ

20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cá o là người không có nghề nghiệ p, thu nhậ p thấ p, không có tà i sả n có giá trị , lại số ng tạ i vù ng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trì nh điề u tra và tạ i phiên tò a người đại diện của nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại vớ i tổ ng số tiề n là 12.624.000 đồ ng. Tại phiên tòa b ị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự . Quá trình điều tra bị cáo đã nộ p số tiền 8.000.000 đồ ng tạ i chi cụ c Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn để bồi thường th iệt hại cho nguyên đơn dân sự . Hội đồng xét xử thấ y việ c tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo không trái pháp luật và đạo đức xã hội cần đượ c chấp nhận. Bị cáo Q còn phải bồi thường tiếp cho nguyên đơn dân sự số tiề n cò n lạ i là 4.624.000 đồ ng.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại dài 45cm, chiều rộng 05cm của Bàn Văn Q sử dụng để phát phá rừng trái phép, xác định là công cụ dùng vào việc phạm tôi không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số lâm sản là các loại cây tự nhiên và 5.300 cây vầu bị chặt phá trên diện tích rừng mà Bàn Văn Q phát phá trái phép, do đã bị đốt cháy hếtnên quá trình điều tra không xác định và thu hồi được.

[9] Đối với bà Ma Thị H là ngườ i cù ng đứ ng tên trong Giây chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t đố i vớ i thử a đấ t mà bị cá o Bàn Văn Q phát phá trái phép, quá trình điều tra xác định bà H không liên quan đên việ c phá t phá rừ ng củ a bị cá o nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Đối với bà Đặng Thị Đ là vợ củ a bị cá o, quá trình điều tra xác định bà Đ không liên quan đế n việ c bị cá o Q phát phá rừ ng trái phép nên không có cơ sở để điều tra xử lý .

[10] Về án phí : Bị cáo Bàn Văn Q là người dân tộc thiểu số , số ng tạ i vù ng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đượ c miễ n toà n bộ án phí theo quy đị nh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn Q phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn Q 03 năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bàn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về trá ch nhiệ m dân sự : Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Bà n Văn Q phải bồi thường thiệt hại về tà i sả n cho Ủy Ban nhân dân huyệ n C, tỉnh Bắc Kạn với tổng số tiền là 12.624.000 đồ ng. Ghi nhậ n việ c bị cá o Q đã nộ p số tiề n 8.000.000 đồ ng để bồ i thườ ng tạ i Chi cụ c Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồ n, tỉnh Bắc Kạn theo Biên lai thu tiền số 0001284 ngày 06/7/2022. Bị cáo Q còn phải bồi thường tiếp cho Ủy Ban nhân dân huyệ n C , tỉnh Bắc Kạn số tiề n cò n lạ i là 4.624.000 đồ ng. Việc thi hành án khoản tiền này được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

3. Về vậ t chứ ng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại, dài 45cm (phần thân dao dài 27cm, chuôi dao bằng gỗ dài 18cm), chiều rộng 05cm.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).

Tạm giữ số tiền 8.000.000 đồng của bị cáo Bàn Văn Q đã nộp để bồi thường theo Biên lai thu tiền số 0001284 ngày 06/7/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án khoản tiền bồi thường thiệt hại cho bị cáo.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điể m đ khoả n 1 Điề u 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí , lệ phí tòa án. Miễ n á n phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cá o Bàn Văn Q.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắ ng mặ t tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c ngà y bả n á n đượ c niêm yế t.

Cỡ chữ