- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Lý Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Lý Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HS-ST Ngày: 17/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phước Tâm
2. Bà Võ Thị Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ngọc Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2022, đối với:
* Bị cáo: Phan Lý Q - sinh năm 1995 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp AD, xã AB, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phan Hồng H và bà Đặng Thị Hồng H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trung V - sinh năm 1998; Cư trú: Ấp BH, xã MH, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Bà Đặng Thị Hồng H - sinh năm 1960; Cư trú: Ấp AD, xã AB, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Phan Lý Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 11/11/2021, Nguyễn Trung V, Phạm Minh T có đến phòng trọ của bạn là Phan Lý Q chơi, lúc này trời mưa nên Q nhờ V điều khiển xe mô tô biển số 66F1-291.92 của Q (xe mô tô của mẹ Q là bà Đặng Thị Hồng H) chở Q đến thành phố Cao Lãnh tìm đối tượng tên T (không biết địa chỉ và họ tên cụ thể) để mua ma túy, nhưng Q không nói cho V biết đi mua ma túy mà nói với V là đi công việc, V chở Q đi lòng vòng trên địa bàn thành phố Cao Lãnh, đến khu vực cầu Xáng thuộc Phường 2, thành phố Cao Lãnh thì Q nhìn thấy Tèo điều khiển xe vào một con hẻm, Q kêu Vĩnh dừng xe lại đứng chờ, Q đi bộ vào hẻm gặp Tèo mua 1.000.000 đồng ma túy, Q cất giấu ma túy vào lòng bàn tay trái đi ra gặp V kêu V chạy về phòng trọ, V chạy xe được một đoạn bị lạnh (do trời mua) nên đổi cho Q điều khiển xe. Đến khoảng 16 giờ 30 phút khi Q đang điều khiển xe đến khu vực nhà trọ TN thuộc ấp AD, xã AB, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng tuần tra của Công an huyện Cao Lãnh và lực lượng Công an xã AB dừng xe kiểm tra thì phát hiện trong lòng bàn tay trái của Q có cầm 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước 03cm x 3,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy tổng hợp (ma túy đá); đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan đến vụ án là 01 bịt nylon có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy niêm phong theo quy định và 01 xe môtô biển số 66F1-291.92, nhãn hiệu Honda Future X, màu đen.
Tại bản Kết luận giám định số: 941/KL-KTHS ngày 13 tháng 11 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong phong bì thư màu trắng nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 1,096gam, loại Methamphetamine.
Đối với xe mô tổ biển số 66F1-291.92 là của bà Đặng Thị Hồng H, sinh năm 1960, ngụ ấp AD, xã AB, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp là mẹ ruột của Q. Do Q sống cùng nhà với bà H ở AD, xã AB, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp nên vào ngày 11/11/2021 bà H không biết việc Q lấy xe của bà đi mua ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao lãnh đã trao trả xe trên cho bà H.
Đối với Nguyễn Trung V không biết Q đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành thẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, cùng các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSHCL ngày 19/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Phan Lý Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa sơ thẩm:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phan Lý Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Phan Lý Q với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 1,004 gam ma túy còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp niêm phong số 971 ngày 11/11/2021.
* Bị cáo Phan Lý Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận gì đối với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Lý Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 18/CT-VKSHCL ngày 19/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Vào khoảng 16 giờ ngày 11/11/2021, bị cáo đã thực hiện hành vi mua chất ma túy của người thanh niên tên Tèo (không rõ lai lịch) với số tiền 1.000.000 đồng tại khu vực Phường 2, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp với mục đích để sử dụng cá nhân. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, khi Q đang điều khiển xe về đến khu vực nhà trọ TN thuộc ấp AD, xã AB, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an huyện Cao Lãnh kết hợp Công an xã AB tiến hành kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ trong người của bị cáo khối lượng ma túy là 1,096 gam, loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Phan Lý Q đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra vụ án.
Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng các chất ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và làm phát sinh các loại tội phạm khác trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Đáng lý ra, bị cáo phải biết tránh xa các chất ma túy, nhưng ngược lại, vì muốn được sử dụng chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu ma túy còn lại sau giám định chứa trong phong bì thư có khối lượng 1,004gam được niêm phong số 971 ngày 11/11/2021 có đóng dấu hình tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp; đây là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với xe mô tổ biển số 66F1-291.92 là tài sản của bà Đặng Thị Hồng H, bà H không biết việc bị cáo sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bà H là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Đối với người thanh niên tên T đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Trung V do không biết việc Q kêu chở đi mua ma túy; đồng thời, tại phiên tòa bị cáo khẳng định V không có hùn tiền với bị cáo để mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý V với vai trò đồng phạm trong vụ án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Phan Lý Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phan Lý Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu ma túy còn lại sau giám định chứa trong phong bì thư có khối lượng 1,004 gam; được niêm phong ghi số 971 ngày 11/11/2021, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và có các chữ ký ghi họ tên của Trương Minh Vũ, Đinh Nhựt Dững, Trần Thanh Phong, Phan Lý Q, và Nguyễn Trung Vĩnh.
(Vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2022).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Phan Lý Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Cao Lãnh; - CA huyện Cao Lãnh; - THADS huyện Cao Lãnh; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Trường Chinh |