- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thach Lợi - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị số 25/QĐ-VKS-P7 ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang đề nghị không áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Thạch L và Đào Ngọc S. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2022/HS-PT Ngày 05 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Dương Quốc Tuấn; Ông Phạm Hoàng Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Trúc - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo Thạch L và Đào Ngọc S do có kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2022/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. (Sau đây gọi tắt là bản án sơ thẩm).
- Bị cáo bị kháng nghị:
1. Thạch L (tên gọi khác: Chó Con), sinh ngày 12/10/1995; tại thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: khu vực 4, phường H, thành phố N, tỉnh G; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch G và bà Trương Thị D; vợ: bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 12/7/2021 đến ngày 16/7/2021 chuyển tạm giam liên tục đến nay; bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Hậu Giang; Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lợi: Ông Phan Long Hải. Là Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
2. Đào Ngọc S (tên gọi khác: V), sinh ngày 01/02/1995; thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: khu vực 4, phường H, thành phố N, tỉnh G; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Minh H (chết) và bà Phạm Thị O; vợ: bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 12/7/2021 đến ngày 16/7/2021 chuyển tạm giam liên tục đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 35 phút ngày 12/7/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Ngã Bảy phối hợp với Công an phường Hiệp Thành bắt quả tang bị cáo Thạch L và bị cáo Đào Ngọc S đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của Lợi thuộc khu vực 4, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Tang vật thu giữ gồm: 24 (hai mươi bốn) bịch nylon được hàn kín, chứa tinh thể không màu nghi là ma túy đá và các vật chứng có liên quan.
Quá trình điều tra bị cáo Thạch L khai: Do bản thân nghiện ma túy và không có việc làm ổn định nên từ tháng 02/2021 L đã mua ma túy đá về phân ra thành nhiều bịch nhỏ để bán kiếm lời, vừa có ma túy sử dụng vừa có tiền tiêu xài. Từ khi thực hiện hành vi phạm tội đến khi bị bắt, Lợi mua ma túy đá của 02 người để bán lại là của Nguyễn Hoàng Th (tên gọi khác: Hai Nồ), sinh năm 1994, đăng ký thường trú: khu vực 2, phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang và người thanh niên tên L ở thành phố Sóc Trăng, cụ thể:
Đối với Nguyễn Hoàng Th khi có nhu cầu thì L sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia 105 bên trong có gắn sim số 0362.222.738 để gọi cho Th đặt mua ma túy. Sau khi thống nhất về số lượng, giá tiền, địa điểm thì L và Th trực tiếp gặp nhau để giao nhận. Trong thời gian hoạt động mua bán trái phép chất ma túy L đã mua của Th khoảng 7 đến 8 lần, mỗi lần mua 01 bịch với giá 1.800.000 đồng.
Đối với người thanh niên tên L khi cần mua ma túy thì L sử dụng điện thoại Nokia 105 bên trong có gắn sim số 0362.222.738 gọi đến số thuê bao 0772.152.370 của L để mua. Sau khi thống nhất về giá tiền, số lượng, thời gian thì L trực tiếp mang ma túy đến giao cho bị can tại đầu đường vào khu dân cư phường Hiệp Thành thuộc khu vực 4, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Trong thời gian hoạt động mua bán trái phép chất ma túy L đã mua của L trên 20 lần, mỗi lần mua 01 bịch với giá 2.000.000 đồng.
Sau khi mua ma túy đem về nhà thì L, S phân chia ma túy ra thành nhiều bịch nhỏ có giá khác nhau để bán cho người mua, lợi nhuận thu được dùng để tiêu xài cá nhân và dùng làm vốn tiếp tục mua ma túy để bán. Đối với số ma túy bị bắt quả tang ngày 12/7/2021 là L mua của L ở Sóc Trăng lúc 18 giờ cùng ngày với giá 2.000.000 đồng. Trong thời gian hoạt động mua bán trái phép chất ma túy tại nhà của mình, bị cáo L đã bán cho các đối tượng sau:
1. Nguyễn Ngọc Ph, sinh năm 1983. Đăng ký thường trú: khu vực 2, phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. L bán cho Ph khoảng 3 đến 4 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy giá 150.000 đồng.
2. Phan Minh T (Đen đại bàng), sinh năm 1982. Đăng ký thường trú: khu vực 1, phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. L bán cho T khoảng 7 đến 8 lần, mỗi lần 1 bịch, nhiều nhất là 200.000 đồng, ít nhất là 150.000 đồng.
3. Nguyễn Trọng Ph, sinh năm 1999. Đăng ký thường trú: khu vực 5, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. L bán cho Phúc 01 lần, 01 bịch ma túy giá 150.000 đồng.
4. Nguyễn Ân T (Nhẹ), sinh năm 1992. Đăng ký thường trú: khu vực 1, phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. L bán cho T khoảng 5 đến 6 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 300.000 đồng, ít nhất là 200.000 đồng.
5. Dương Vũ T (Tâm ke), sinh năm 1986. Đăng ký thường trú: khu vực 6, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. L bán cho T 02 lần, mỗi lần 01 bịch giá 150.000 đồng.
6. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993, Đăng ký thường trú: khu vực 1, phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. L bán cho Đức khoảng 4 đến 5 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 300.000 đồng, ít nhất là 200.000 đồng.
7. Lê Minh Tr (Cá kiểng), sinh năm 1989. Đăng ký thường trú: khu vực 1, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. L bán cho Tr khoảng 5 đến 6 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 300.000 đồng, ít nhất là 200.000 đồng.
8. Nguyễn Hoàng H (Tắc kè): L bán cho H khoảng 7 đến 8 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 200.000 đồng, ít nhất là 150.000 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo Đào Ngọc S khai: Từ tháng 4/2021 S tham gia bán ma túy cùng L. S có tham gia phân chia ma túy ra thành nhiều bịch nhỏ có giá khác nhau để bán cho người mua. Khi có người đến nhà L mua ma túy nhưng L không có nhà hoặc L bận thì S lấy ma túy bán cho người mua, số tiền bán được S để lại nơi cất ma túy. Khi bán dùm L thì S được L nạp card điện thoại, thỉnh thoảng cho tiền tiêu xài và cho sử dụng ma túy mà không phải trả tiền.
Trong thời gian hoạt động mua bán trái phép chất ma túy, địa điểm bán tại nhà của L. S đã bán cho các đối tượng cụ thể như sau:
1. Nguyễn Ngọc Ph, sinh năm 1983. Đăng ký thường trú: khu vực 2, phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. S bán cho Ph khoảng 2 đến 3 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy giá 150.000 đồng.
2. Nguyễn Trọng Ph, sinh năm 1999. Đăng ký thường trú: khu vực 5, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. S bán cho Phúc 03 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 200.000 đồng, ít nhất là 150.000 đồng.
3. Nguyễn Ân T (Nhẹ), sinh năm 1992. Đăng ký thường trú: khu vực 1, phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. S bán cho T khoảng 2 đến 3 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 300.000 đồng, ít nhất là 200.000 đồng.
4. Dương Vũ T (T ke), sinh năm 1986. Đăng ký thường trú: khu vực 6, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. S bán cho T 01 lần, 01 bịch giá 200.000 đồng.
5. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993. Đăng ký thường trú: khu vực 1, phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. S bán cho Đ 01 lần 01 bịch, giá 300.000 đồng.
6. Lê Minh Tr (Cá Kiểng), sinh năm 1989. Đăng ký thường trú: khu vực 1, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. S bán cho Tr khoảng 2 đến 3 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 300.000 đồng, ít nhất là 200.000 đồng.
7. Nguyễn Hoàng H (Tắc kè): S bán cho H khoảng 2 đến 3 lần, mỗi lần 01 bịch, nhiều nhất là 200.000 đồng, ít nhất là 150.000 đồng.
Quá trình làm việc các đối tượng: Nguyễn Ngọc Ph, Phan Minh T, Nguyễn Trọng Ph, Nguyễn Ân T, Dương Vũ T, Nguyễn Văn Đ, Lê Minh Tr đều khai nhận có mua ma túy của L và S như nêu trên.
Căn cứ kết luận giám định số: 49/KLGĐ-PC09(MT) ngày 15/7/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hậu Giang xác định: Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,34165 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2022/HS-ST, ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Thạch L, Đào Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Thạch L 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2021, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Xử phạt bị cáo Đào Ngọc S 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2021, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16 tháng 02 năm 2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang Quyết định kháng nghị số 25/QĐ -VKS - P7 đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Thạch L và Đào Ngọc S.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát trình bày giữ nguyên kháng nghị. Phát biểu quan điểm về vụ án: Kiểm sát viên cho rằng, bản án sơ thẩm xử các bị cáo Thạch L, Đào Ngọc S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật; mức hình phạt áp dụng cho các bị cáo là đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung phạm tội đối với nhiều người cho hai bị cáo là không phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo và sửa bản án sơ thẩm.
Phát biểu ý kiến về nội dung kháng nghị, bị cáo Đào Ngọc S thống nhất với kháng nghị của Viện kiểm sát. Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét kháng nghị theo quy định của pháp luật. Bị cáo Thạch L vắng mặt tại phiên tòa nên không phát biểu.
Phát biểu đối đáp: Không ai phát biểu đối đáp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của Quyết định kháng nghị: Sau khi bị xét xử sơ thẩm, ngày 16 tháng 02 năm 2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang có Quyết định kháng nghị đúng theo quy định tại các điều 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
. Về xét xử vắng mặt: Bị cáo Thạch L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng tại phiên toà vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án xét xử vắng mặt.
. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đào Ngọc S vẫn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo Thạch L vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm thừa nhận hành vi phạm tội. Đối chiếu lời thừa nhận của các bị cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do không việc làm ổn định và bản thân nghiện ma túy, nên từ tháng 02/2021 (đối với bị cáo Thạch L) và tháng 4/2021 (đối với Đào Ngọc S) đã nhiều mua ma túy của Nguyễn Hoàng Th (hiện đã rời bỏ địa phương) và một đối tượng tên L (hiện chưa rõ nhân thân) về phân lẻ ra thành nhiều bịch nhỏ một phần để sử dụng, phần còn lại bán kiếm lời. Ngày 12/7/2021 sau khi mua 2.000.000 đồng ma túy của tên L mang về nhà phân lẻ 24 bịch ny long thì bị lực lượng chức năng kiểm tra bắt quả tang. Với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Thạch L, Đào Ngọc S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng nghị đề nghị không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Thạch L và bị cáo Đào Ngọc S thừa nhận nhiều lần mua ma túy của Nguyễn Hoàng Th và một thanh niên chưa rõ nhân thân tên L về phân lẻ mục đích để sử dụng, số còn lại thì bán lại cho cho người mua là Nguyễn Ngọc Ph, Phan Minh T, Nguyễn Trọng Ph, Nguyễn Ân T, Dương Vũ T, Nguyễn Văn Đ, Lê Minh Tr, Nguyễn Hoàng H và một số đối tượng khác. Những người mua này hồ sơ thể hiện thừa nhận nhiều lần mua ma túy của hai bị cáo L, S bán về sử dụng, nên bản án sơ thẩm xác định các bị cáo “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với tình tiết “phạm tội đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bản án sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo trong vụ án này là chưa đủ cơ sở, không phù hợp pháp luật. Bởi lẽ: lời khai của các bị cáo L, S đều thể hiện các bị cáo mỗi lần bán ma túy cho người mua bị cáo chỉ bán cho 01 người, trong thời gian bán cho đến khi bị bắt có trường hợp 01 người mua ma túy của bị cáo nhiều lần, nhưng ở ngày khác nhau. Không có chứng cứ xác định các bị cáo một ngày bán ma túy cho nhiều người khác nhau, nên bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung quy định tại các điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo Thạch Lợi và Đào Ngọc S là không phù hợp pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát điều chỉnh bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự khi xét xử hai bị cáo.
. Về mức hình phạt: Sau khi bị xét xử sơ thẩm các bị cáo chấp nhận mức hình phạt tù, không làm đơn kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang có kháng nghị nhưng không đề nghị giảm mức hình phạt. Tuy nhiên, xét nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi bị bắt đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội quả tang và cả hành vi phạm tội trước đó; bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm áp dụng hai tình tiết định khung mới xử mức án lần lượt là 07 năm 06 tháng và 08 năm 06 tháng tù cho bị cáo Đào Ngọc S và Thạch L. Nay cấp phúc thẩm có điều chỉnh không áp dụng 01 tình tiết định khung cho hai bị cáo, mặc dù các bị cáo chấp nhận mức hình phạt không kháng cáo, nhưng để đảm bảo công bằng cho các bị cáo, Hội đồng xét xử giảm một phần mức hình phạt tù cho các bị cáo.
. Về trình bày quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về kháng nghị, cũng như nội dung vụ án tại phiên toà: Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp nhận kháng nghị điều chỉnh bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Thạch L, Đào Ngọc S không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng nghị số 25/QĐ-VKS-P7 ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang đề nghị không áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Thạch L và Đào Ngọc S. Sửa bản án sơ thẩm.
2. Tuyên bố: Các bị cáo Thạch L và Đào Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thạch S 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 12/7/2021.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đào Ngọc S 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 12/7/2021.
3. Căn cứ Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Thạch L, Đào Ngọc S mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày. Thời hạn tính từ ngày 05/4/2022.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
Các bị cáo Thạch L, Đào Ngọc S không phải chịu.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 05/4/2022).