vanban.org

Bản án 33/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn" của bà Nguyễn Hải Y đối với ông Nguyễn Hữu Ch.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hải Y được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Ch. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52, ngày 22 tháng 6 năm 2016 của UBND phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yen-Chien"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn" của bà Nguyễn Hải Y đối với ông Nguyễn Hữu Ch.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 8 năm 2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Tâm

Ông Lê Truyền Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 về "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hải Y, sinh năm 1972; Địa chỉ: 172 B, phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: 141 D, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Ch, sinh năm 1967; Địa chỉ: K96/H17/7 đường H1, tổ 27, phường Th, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên lạc: Chung cư H - Khu B1- P601, thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện và bản tự khai, Nguyên đơn – bà Nguyễn Hải Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Hữu Ch xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống vợ chồng ngày càng lâm vào tình trạng xấu và không thể kéo dài được nữa. Bản thân tôi đã nhiều lần hàn gắn vợ chồng nhưng không có kết quả, nay tôi xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Ch.

Về quan hệ con chung: Tôi và ông Ch không có con chung.

Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tôi và ông Ch không có nợ chung.

* Tại Biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Hữu Ch có ý kiến như sau: Tôi và bà Nguyễn Hải Y chung sống từ năm 2016 và cũng năm 2016 chúng tôi đăng ký kết hôn tại UBND phường 6, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Hôn nhân tự nguyện và do yêu thương nhau thật lòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chúng tôi chung sống tại số 127 Bà Huyện Thanh Quan, phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chúng tôi chung sống không hạnh phúc do không hợp nhau, đã nhiều lần xảy ra cãi vã nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nhưng không khắc phục được nên vợ chồng đã sống ly thân 3 năm nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên trước yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Y, tôi đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng tôi không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Đối với nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho bà Nguyễn Hải Y được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Ch; về con chung: không có nên không đề cập đến; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến; về nợ chung: không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Hải Y, bị đơn ông Nguyễn Hữu Ch đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.

Về nội dung vụ án: Theo nguyên đơn trình bày Bà Nguyễn Hải Y và ông Nguyễn Hữu Ch xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, đời sống vợ chồng ngày càng lâm vào tình trạng xấu và không thể kéo dài được nữa. Bản thân bà đã nhiều lần hàn gắn vợ chồng nhưng không có kết quả, nay bà Y xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ch.

Ông Nguyễn Hữu Ch có ý kiến trình bày thống nhất ly hôn với bà Nguyễn Hải Y.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của bà Nguyễn Hải Y và ông Nguyễn Hữu Ch là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đến nay, bà Y cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài và không còn tình cảm với ông Ch nữa nên có quyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu Ch, Tòa án đã ủy thác thu thập chứng cứ lấy lời khai, ông Ch đồng ý ly hôn với bà Y. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; có kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả nên cần áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Hải Y là hợp tình hợp lý.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Hải Y và ông Nguyễn Hữu Ch đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung: Bà Nguyễn Hải Y và ông Nguyễn Hữu Ch đều xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Hải Y xác định không có, ông Nguyễn Hữu Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn" của bà Nguyễn Hải Y đối với ông Nguyễn Hữu Ch.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hải Y được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Ch.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52, ngày 22 tháng 6 năm 2016 của UBND phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh)

2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Hải Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000824 ngày 18/4/2022.

3. Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Hải Châu;

- Chi cục THADS quận Hải Châu;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Phạm Thị Ngọc Hà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Hải Châu;

- Chi cục THADS quận Hải Châu;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Phạm Thị Ngọc Hà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ