- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông K yêu cầu ly hôn với bà M"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH Đ Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24-5-2022 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH Đ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Phường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điểu Hoàng và bà Trần Thúy Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hồ K, sinh năm 1972. HKTT: Số 84, phố 2, ấp 1, xã Phú Lợi, huyện Đ, tỉnh Đ. Nơi cư trú: Khu 1, ấp Ba Tầng, xã Phú Vinh, huyện Đ, tỉnh Đ.
Bị đơn: Bà Giềng Bác M, sinh năm 1970. HKTT: Số 84, phố 2, ấp 1, xã Phú Lợi, huyện Đ, tỉnh Đ. Nơi cư trú: Khu 1, ấp Ba Tầng, xã Phú Vinh, huyện Đ, tỉnh Đ.
(Ông K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà M vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07-12-2021, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn ông Hồ K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông K và bà Giềng Bác M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1988 đến năm 1996 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Lợi, huyện Đ, tỉnh Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 12-12-1996.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đầm ấm đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau. Ông K đã cố gắn gìn giữ hạnh phúc gia đình nhưng không thành, vợ chồng ly thân từ năm 2014. Nay ông K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu ly hôn với bà M.
Về con: Theo ông K, ông và bà M có 06 (Sáu) người con là Hồ Váy Dìn, sinh ngày 02-10-1993; Hồ Mỹ Dìn, sinh ngày 05-5-1996; Hồ Chánh Dìn, sinh ngày 29-5-1990; Hồ Lùn Dìn, sinh ngày 08-12-1988; Hồ Vương Nguyên, sinh ngày 29-10-1997 và Hồ Phát Nguyên, sinh ngày 29-10-1997. Các con hiện nay đã thành niên và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Theo ông K, vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Theo ông K, vợ chồng không có nợ chung.
Do bận công việc, không thể sắp xếp được thời gian để tham gia phiên tòa, nên chị Lựu đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.
Bị đơn bà Giềng Bác M mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng quá trình giải quyết vụ án không có văn bản trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu chứng cứ, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng ông K và bà M, kết quả xác minh như sau:
Ông K và bà M phát sinh mâu thuẫn từ năm 2014, nguyên nhân mâu thuẫn do vấn đề tiền bạc, chi tiêu trong gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cải.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng về xác định quan hệ pháp luật, về tư cách tham gia tố tụng của đương sự, về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu theo thẩm quyền, thủ tục giao, gửi, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng tất cả đều đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các phần của phiên tòa sơ thẩm. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định. Nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho ông Hồ K được ly hôn với bà Giềng Bác M. Về con: Đề nghị không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị không xem xét. Về án phí: ông K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về thủ tục quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Hồ K khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Giềng Bác M, vì vậy quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn bà M có nơi cư trú tại: Khu 1, ấp Ba Tầng, xã Phú Vinh, huyện Đ, tỉnh Đ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông K vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà M, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Quan hệ hôn nhân giữa ông K và bà M xác lập ngày 12-12-1996 (thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực). Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, áp dụng các điều khoản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông K và bà M được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Phú Lợi, huyện Đ, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 12-12-1996. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Nguyên đơn ông K yêu cầu ly hôn với lý do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2014 cho đến nay. Lời khai của nguyên đơn về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án, có đủ cơ sở xác định: Quá trình sống chung, vợ chồng ông K và bà M đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng. Có căn cứ để xác định, hôn nhân của ông K và bà M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, thì yêu cầu ly hôn của ông K đối với bà M là có cơ sở chấp nhận.
Đối với bị đơn bà M, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn, nhưng bị đơn cố tình không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, từ bỏ quyền của đương sự; điều này cũng thể hiện, bà M không mong muốn được hòa giải đoàn tụ gia đình với ông K.
Về con: Theo ông K, hiện các con đã thành niên và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, ông K không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Ông K là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó ông K phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 11, 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 1 Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ K, về việc “Ly hôn” đối với bà Giềng Bác M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ K được ly hôn với bà Giềng Bác M.
2. Về con: Không xem xét, giải quyết
3. Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Ông Hồ K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ông K đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0003386 ngày 07-01-2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đ. Ông K đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Chi cục THA huyện Đ; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Ngọc, huyện Đ (GCNKH số 05/2001, quyển số 01, ngày 29-01- 2001) (để ghi vào sổ hộ tịch). - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Phường |