- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST TRANG- TOÁN"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thì T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 33/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18-01-2022 V/v Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bền
2. Ông Lê Hoài Phong
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Tấn Dũ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tuyền – Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2021/TB-TLVA ngày 02 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thì T, sinh năm 1997; (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp BM, xã KB, huyện TT, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
Anh Võ Văn T1, sinh năm: 1990; (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B B, xã ĐH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai ly hôn ngày 22 tháng 02 năm 2021 cũng như trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thì T trình bày:
Chị và anh Võ Văn T1 quen nhau được 02 năm thì tiến tới hôn nhân, anh chị có tổ chức đám cưới năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kiến Bình, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An ngày 19/02/2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T1 không lo làm ăn, nhậu nhẹt, bỏ bê vợ con, mỗi lần nhậu nhẹt thì vợ chồng hay cãi vã, anh T1 đập phá đồ đạc trong nhà và đánh chị, chị có khuyên anh T1 nhiều lần nhưng anh T1 vẫn thường xuyên nhậu nhẹt, không sửa đổi bản thân nên từ tháng 11/2020 đến nay chị và anh T1 đã sống ly thân nhau, chị về nhà mẹ ruột sống và nuôi 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 11/02/2015 và Võ Huy H1, sinh ngày 13/02/2020.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị xin được ly hôn với anh Võ Văn T1.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 11/02/2015 và Võ Huy H1, sinh ngày 13/02/2020, hiện cháu H và cháu H1 đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn - anh Võ Văn T1: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thì T, cho chị T được ly hôn với anh Võ Văn T1; Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 11/02/2015 và Võ Huy H1, sinh ngày 13/02/2020 cho chị Nguyễn Thị Thì T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh Võ Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét do không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Thì T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn - anh Võ Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Thì T và anh Võ Văn T1 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Kiến Bình, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2020 ngày 19/02/2020, như vậy chị T và anh T1 có đủ điều kiện kết hôn, tự nguyện chung sống với nhau và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thì T và anh Võ Văn T1 là hợp pháp.
Chị T trình bày quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 7/2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T1 không lo làm ăn, nhậu nhẹt, bỏ bê vợ con, mỗi lần nhậu nhẹt thì vợ chồng hay cãi vã, anh T1 đập phá đồ đạc trong nhà và đánh chị, chị có khuyên anh T1 nhiều lần nhưng anh T1 vẫn thường xuyên nhậu nhẹt, không sửa đổi bản thân nên từ tháng 11/2020 đến nay chị và anh T1 đã sống ly thân nhau, chị về nhà mẹ ruột sống và nuôi 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 11/02/2015 và Võ Huy H1, sinh ngày 13/02/2020.
Lời trình bày của chị T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử công nhận những tình tiết nguyên đơn trình bày là sự thật. Anh Võ Văn T1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh T1 không đến để tham gia hòa giải đoàn tụ, không có thành ý đoàn tụ. Chị T và anh T1 không còn tình nghĩa vợ chồng thương yêu, quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thì T và anh Võ Văn T1 có 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 11/02/2015 và Võ Huy H1, sinh ngày 13/02/2020, hiện cháu H và cháu H1 đang được chị T trực tiếp chăm lo sinh hoạt, học tập. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong sinh hoạt, học tập và phát triển bình thường của trẻ, yêu cầu được trực tiếp nuôi con của chị T là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị Thì T phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Xét đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang là có cơ sở, phù hợp với nhận định trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 147 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thì T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thì T được ly hôn với anh Võ Văn T1.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 11/02/2015 và Võ Huy H1, sinh ngày 13/02/2020. Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 11/02/2015 và cháu Võ Huy H1, sinh ngày 13/02/2020 cho chị Nguyễn Thị Thì T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Võ Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Võ Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thì T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo Biên lai thu số 0003968 ngày 01/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, Tiền Giang nên xem như nộp xong án phí.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND H. Châu Thành-TG; - THADS H. Châu Thành-TG; - UBND xã Kiến Bình-Tân Thạnh- Long An; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Nguyễn Thị Mai Thanh |