vanban.org

Bản án 33/2022/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng hoản 2 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; Điều 92 và hoản 1 Điều 227 ộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.

[1] Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Đỗ Thị T, ông Nguyễn Văn Đ và ông Trần Thanh L về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền ề. [2] uộc ng Huỳnh Trí T và bà Nguyễn Thị Ngọc O mở lối đi trên phần đất một phần thửa 123, tờ bản đồ số 44 (tại vị trí thửa 123-1 diện tích 113,1m2 thửa 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "T+Th"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng hoản 2 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; Điều 92 và hoản 1 Điều 227 ộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? luật Tố tụng d n sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 202 Luật Đất đai
T A ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ẾN TRE
ản án số: 33/2022/DS-ST
Ngày: 18-5-2022
V/v: Tranh chấp quyền về lối đi qua

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: à Trương Thị Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Xuân Tiến

Ông Nguyễn Văn Diệp

- Thư k phi n t a: Bà Lê Trần Phương Thảo - Thư ý Tòa án nh n d n huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Huỳnh Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở T a án nh n d n huyện Châu Thành, tỉnh ến Tre x t xử sơ th m c ng hai vụ án d n sự thụ lý số: 15/2021/TLST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2021 về việc Tranh chấp quyền về lối đi qua theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số: 26/2022/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2022 giữa:

1. Nguy n đơn:

1.1. à Đỗ Thị T, sinh năm 1939. Đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị T là anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1972.

1.2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1944.

1.3. Ông Trần Thanh L, sinh năm 1965

Cùng trú tại: ấp T, xã T1, huyện Châu Thành, Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Trí T, sinh năm 1969.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1977.

Cùng trú tại: ấp T, xã T1, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Ông P, ng Đ, ông L có mặt, các đương sự khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bi n bản h a giải cũng như tại t a, nguy n đơn Nguyễn Văn Đ, Trần Thanh L và đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị T là anh Nguyễn Ngọc P cùng trình bày:

à Đỗ Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 122,124, tờ bản đồ 44 trên đất có ng i nhà để ở.

Ông Nguyễn Văn Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 475, 852, tờ bản đồ 5 trên đất có ng i nhà để ở.

Ông Trần Thanh L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 473, 628, 1162, tờ bản đồ 5 trên đất có ng i nhà để ở.

Từ trước giải phóng đến hi xãy ra tranh chấp 03 hộ này sử dụng lối đi trên phần đất của bà Đỗ Thị T thửa đất số 123, tờ bản đồ số 44 để ra đường c ng cộng, lối đi này là lối đi duy nhất có bề ngang 2m dọc theo thửa đất, lối đi này là lối đi vĩnh viễn đã đổ xi măng bêt ng vững chắc.

Tháng 12/2017 bà Đỗ Thị T tặng cho cháu là Huỳnh Trí T thửa đất 123, tờ bản đồ 44, diện tích 1002.4m2, hi cho đất ngày 27/12/2017 bà T và ông T có lập văn bản thỏa thuận để đường đi 2 mét dọc thửa đất theo hiện trạng ết quả đo đạc từ điểm 5,4,3 và xác nhận đ y là lối đi chung vĩnh viễn có xác nhận của U ND xã T1.

Sau 2 năm lấy được quyền sử dụng đất, ng Huỳnh Trí T di dời lối đi ra mương, (03 tấc ở m mương và 1,2m giữa mương) rồi rào lối đi cũ lại, lối đi dời ra mương một bên giáp đất ng Trần Thanh L, cản trở d ng nước chảy, nước xoáy sẽ làm lở bờ bên ng L. Lối đi này chỉ là chiếc cầu tạm trên mương, cản trở, h ng an toàn, h ng chở nặng được.

Trong quá trình ông T dời lối đi ra mương, các hộ d n đã ngăn cản nhưng ng T vẫn bất chấp.

Các hộ nguyên đơn yêu cầu T a án giải quyết buộc vợ chồng ng T phải di dời hàng rào ra hỏi lối đi cột bêt ng lưới 40, mở lại lối củ đi trên thửa đất số 123, tờ bản đồ số 44 để ra đường c ng cộng có chiều ngang 2m để cho việc đi lại thuận tiện vì đ y cũng là lối đi duy nhất của 03 hộ này. Các hộ h ng đồng ý bồi thường vì ông T tự ý x y dựng mà h ng được sự đồng ý của các nguyên đơn.

Tại bản tự khai ngày 08/6/2021 bị đơn ông Huỳnh Trí T có lời trình bày:

Ông Huỳnh Trí T là chủ sở hữu phần đất thửa đất 123, tờ bản đồ 44, diện tích 1002.4m2 toạ lạc tại xã T1, huyện Ch u Thành, tỉnh ến Tre theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 06727 do sở Tài nguyên và M i trường cấp ngày 18/01/2018.

Phần đất trên ng T đã x y hàng rào bê t ng và o lưới 40 xung quanh phần đất, việc x y dựng trên là hoàn toàn cần thiết bởi để bảo đảm cho việc canh tác và quản lý được tốt hơn, tránh việc trộn cắp. Khi x y hàng rào, ông có để lại một phần đất giáp ranh để làm lối đi cho 6 hộ d n ở bên trong với bề rộng hoảng 2 m t, dài hết phần đất, trong 6 hộ d n trên có 3 hộ là nguyên đơn. Đường đi này ng đã đổ đường bê t ng cho các hộ sử dụng và hiện nay 06 hộ d n này vẫn sử dụng lối đi này để đi ra đường c ng cộng.

Hiện nay ng h ng cản trở, h ng rào lối đi, h ng tác động bất ỳ việc gì đến lối đi trên. Ông h ng đồng ý với yêu cầu hởi iện của 3 nguyên đơn vì ông vẫn để lối đi trên phần đất của mình cho các hộ d n sử dụng và lối đi này nằm ngoài hàng rào bê t ng và lưới 40 của ông. Do đó, trước yêu cầu mở lối đi qua của các nguyên đơn là h ng có căn cứ, hành vi trên là cố tình tạo tranh chấp để g y hó dễ cho c ng ăn việc làm của ng.

Qua văn bản này, ông ính mong Toà án giải quyết h ng chấp nhận yêu cầu hởi iện của các nguyên đơn vì yêu cầu trên h ng có căn cứ để giải quyết do các nguyên đơn vẫn có lối đi ra đường c ng cộng, lối đi vẫn th ng thoáng và h ng bị rào. Cũng qua văn bản này ng T xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc ể cả phiên toà x t xử vì ng hành nghề lái xe nên thường xuyên đi xa, h ng có thời gian tham gia các lần Toà án triệu tập.

Tại biên bản làm việc ngày 21/10/2021 bà Nguyễn Thị Ngọc O có lời trình bày: bà là vợ ng Huỳnh Trí T. Đối với phần đất ng Huỳnh Trí T là chủ sỡ hữu phần đất thửa đất 123, tờ bản đồ 44, diện tích 1002.4m2 toạ lạc tại xã T1, huyện Ch u Thành, tỉnh ến Tre theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 06727 do sở Tài nguyên và M i trường cấp ngày 18/01/2018 có nguồn gốc là của gia đình bên ông T cho, tuy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do một mình ng T đứng tên nhưng đ y là tài sản chung của hai vợ chồng. à thống nhất lời trình bày của ông T tại bản tự hai ngày 08/6/2022, do bận c ng việc mua bán nên bà cũng xin Toà án giải quyết vắng mặt tất cả các buổi làm việc cũng như phiên toà x t xử.

Tại bi n bản làm việc ngày 24/3/2022, người chứng kiến ông Nguyễn Hoàng Thái V cung cấp thông tin: khi ông T rào đường đi củ và làm lại đường đi mới ra ngoài m mương thì rất hó hăn cho việc đi lại vì h ng đảm bảo độ an toàn, để bảo vệ sự an toàn cho những người trong gia đình ông đã bỏ ra một số tiền để nhờ thợ hồ n ng sắt lên đoạn đường vào nhà ông và ng làm lan can để con ông đi học h ng bị t xuống mương. Việc ông bỏ tiền ra làm đường để đảm bảo sự an toàn cho gia đình ng nên ng không yêu cầu ai phải trả lại. Đối với yêu cầu hởi iện của các nguyên đơn với ng Huỳnh Trí T, bản th n ng h ng liên quan nên ng h ng tham gia tố tụng.

Tại t a, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm như sau:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng tuân thủ đúng quy định pháp luật, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng x t xử chấp nhận yêu cầu hởi iện của các nguyên đơn. uộc ng Huỳnh Trí T và bà Nguyễn Thị Ngọc O phải dành cho các nguyên đơn phần đất mở lối đi thuộc một phần thửa 123, tờ bản đồ số 44 (tại vị trí thửa thửa 123-1 diện tích 113,1m2 và thửa 123-2 diện tích 18,5m2).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại t a, căn cứ lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn hởi iện của bà Đỗ Thị T, ông Nguyễn Văn Đ và ông Trần Thanh L đối với ông Huỳnh Trí T và bà Nguyễn Thị Ngọc O thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền về lối đi qua . Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại hoản 2 Điều 26 ộ luật Tố tụng d n sự năm 2015 thuộc th m quyền giải quyết của T a án.

Ông Huỳnh Trí T và bà Nguyễn Thị Ngọc O cư trú tại xã T1, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Lối đi mà đương sự yêu cầu mở tọa lạc tại ấp T, xã T1, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 35 và điểm a hoản 1 Điều 39 ộ luật Tố tụng d n sự năm 2015, T a án nh n d n huyện Châu Thành, tỉnh ến Tre thụ lý, giải quyết là đúng th m quyền.

Về nội dung:

Xét về nguồn gốc đất: Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họa đồ hiện trạng sử dụng ngày 17/01/2022 cũng như hồ sơ vụ án thể hiện: Nguồn gốc thửa đất số 123 tờ bản đồ số 44 tọa lạc tại ấp T, xã T1, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre trước đ y do bà Đỗ Thị T đứng tên, ngày 27/12/2017 bà T chuyển nhượng theo hình thức úp sổ toàn bộ thửa đất nêu trên cho ông Huỳnh Trí T và ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18/01/2018. Cùng ngày 27/12/2017 bà Tần, ông T có ý văn bản thỏa thuận với nội dung: trên thửa đất 123 tờ bản đồ số 44 có đường đi bề ngang 2 mét dọc theo thửa đất, đ y là lối đi chung vĩnh viễn và được UBND xã T1 xác nhận.

- Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họa đồ hiện trạng sử dụng cũng như lời trình bày của đương sự thì các thửa đất của bà T, ng Đ, ông L bị vây bọc bởi thửa đất của ông T. Để ra được đường công cộng thì hộ bà T, ng Đ, ông L phải đi qua thửa 123 của ông Huỳnh Trí T. Trước đ y, phía nguyên đơn sử dụng lối đi cũ được hình thành từ trước và các hộ phía trong đều sử dụng để đi lại không tranh chấp (theo văn bản thỏa thuận ngày 27/12/2017). Sau đó, ng T có xây hàng rào, o lưới B40 xung quanh phần đất, rào lối đi cũ lại và di dời lối đi ra phía giáp ranh đất để làm lối đi nên phía nguyên đơn h ng đồng ý; phía nguyên đơn cho rằng lối đi này h ng thuận lợi, h ng an toàn, đi lại hó hăn, lối đi như vậy cản trở d ng nước, làm lở bờ đất hộ ông Liêm, xe không chở nặng được...

Ngày 14/11/2021 phía nguyên đơn có đơn hiếu nại trình bày vụ việc tranh chấp lối đi chưa được giải quyết nhưng ngày 13/11/2021 phía gia đình ng T đã khởi công xây dựng nhà trên lối đi cũ. Tuy nhiên, tại biên bản làm việc ngày 15/11/2021, phía nguyên đơn thống nhất h ng làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp kh n cấp tạm thời về việc yêu cầu ông T ngưng thi c ng, mà yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết, yêu cầu ông T phải làm lối đi mới đảm bảo an toàn việc đi lại của các hộ dân.

Tại khoản 1 Điều 254 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối hợp lý trên phần đất của họ”. Như vậy, trước đ y phía bà T và ông T có thỏa thuận về lối đi chung văn bản ngày 27/12/2017, tuy nhiên không có hoạ đồ xác định vị trí lối đi rõ ràng nên sau đó ông T xây hàng rào bít lối đi củ trên phần đất của mình để quản lý phần đất được tốt hơn, tránh việc trộm cắp, ông dời lối đi mới ra phần đất giáp ranh mà hiện tại các nguyên đơn đang sử dụng là lối đi.

Tại phiên toà các nguyên đơn thống nhất đi trên lối đi mà ng T đã mở tại vị trí thửa 123-1 diện tích 113,1m2 và thửa 123-2 diện tích 18,5m2 tuy nhiên các nguyên đơn yêu cầu ông T phải lắp mương, làm lan can để đảm bảo sự an toàn. Theo quy định tại Điều 254 BLDS2015 quy định: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối hợp lý trên phần đất của họ” Hội đồng xét xử xét thấy lối đi ng T mở cho các nguyên đơn đi là hợp lý, còn về độ an toàn các nguyên đơn yêu cầu thì không thể chấp nhận được.

Hiện tại, lối đi trên ng T và bà O đều đồng ý để cho phía bị đơn quản lý, sử dụng và không có yêu cầu gì về bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cũng như chi phí đổ bê t ng để làm đường đi, nên ghi nhận.

Từ những ph n tích nêu trên, đối chiếu quy định pháp luật với hiện trạng sử dụng thực tế thấy rằng yêu cầu của bà T, ông L và ng Đ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chi phí tố tụng: Chi phí thu thập chứng cứ nguyên đơn tự nguyện chịu nên ghi nhận.

Án phí: mỗi người có nghĩa vụ chịu theo quy định nhưng được hấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ tr n,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 245 và Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng các điều 5, 166, 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

- Áp dụng hoản 2 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; Điều 92 và hoản 1 Điều 227 ộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Đỗ Thị T, ông Nguyễn Văn Đ và ông Trần Thanh L về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền ề.

[2] uộc ng Huỳnh Trí T và bà Nguyễn Thị Ngọc O mở lối đi trên phần đất một phần thửa 123, tờ bản đồ số 44 (tại vị trí thửa 123-1 diện tích 113,1m2 thửa 123-2 diện tích 18,5m2 do ông Huỳnh Trí T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã T1, huyện Ch u Thành, tỉnh ến Tre. (Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

[3] Chi phí tố tụng: Ghi nhận việc các nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong.

[4] Án phí DSST: ng Huỳnh Trí T có nghĩa vụ chịu là 300.000 ( a trăm nghìn) đồng.

Hoàn tạm ứng án phí cho ng Trần Thanh L số tiền 300.000đ ( a trăm ngàn đ ng theo biên lai số 0004861 ngày 06/01/2021.

[5] Quyền háng cáo: Đương sự có mặt có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu T a án cấp trên x t xử phúc th m.

Trường hợp bản án, quyết định được theo qui định tại điều 02 của Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được qui định tại điều 30 của Luật thi hành án d n sự.

Cỡ chữ