vanban.org

Bản án 33/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2015; Điều 463, 466, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Non A. Buộc: anh Nguyễn Văn Tr phải có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Non A số tiền 52.607.500đồng (Năm mươi hai triệu sáu trăm lẻ bảy ngàn năm trăm đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Non A - Nguyễn Văn Tr"
  • Tòa quyết gì? 2015; Điều 463, 466, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2022/DS-ST
Ngày: 16-8-2022
“ V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh

2. Ông Võ Văn Liềm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao không tham gia phiên toà.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2022/TLST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXX-ST ngày 02 tháng 8 năm 2022 giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Non A, sinh năm 1985

Địa chỉ: ấp Ph, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1989

Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2022, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Non A trình bày như sau:

Vào ngày 20/10/2021 anh có cho anh Nguyễn Văn Tr vay số tiền 49.000.000đồng (bốn mươi chín triệu đồng) giữa hai bên có làm biên nhận nợ cùng ký tên và hai bên có thỏa thuận bằng miệng về lãi suất là 50.000đồng/1 triệu/1 tháng. Từ ngày nợ cho đến nay anh Tr không trả vốn và lãi khoản nào. Anh có yêu cầu anh Tr trả nợ nhiều lần nhưng anh Tr chỉ hẹn mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đến ngày 04/3/2022 anh có làm đơn yêu cầu Ban lãnh đạo ấp giải quyết, tại biên bản hòa giải ấp Phước An, xã Vĩnh Phước A ngày 30/5/2022 anh Tr vẫn thừa nhận nợ anh số tiền 49.000.000đồng và xin hẹn trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi hết nợ, số tiền nợ này là do một mình anh Tr nợ, không liên quan đến ai. Tuy nhiên, anh Tr vẫn không thực hiện trả nợ theo lời hứa trong biên bản ngày 30/5/2022 nên anh khởi kiện đến Tòa án.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Non A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc một mình anh Nguyễn Văn Tr phải trả cho anh số tiền nợ gốc 49.000.000đồng (bốn mươi chín triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 20/10/2021 đến ngày 16/8/2022 là 9 tháng 25 ngày x 49.000.000đồng x 0,75% = 3.607.500đồng; yêu cầu trả đủ gốc và lãi một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, anh không yêu cầu gì thêm.

Tại bản tự khai đề ngày 19/7/2022, tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn Tr trình bày: Anh thừa nhận vào ngày 20/10/2021 anh có vay của anh Nguyễn Non A số tiền 49.000.000đồng (bốn mươi chín triệu đồng), chữ ký trên biên nhận ngày 20/10/2021 đúng là anh ký tên, giữa anh với anh Non A có thỏa thuận lãi suất bằng miệng 50.000đồng/1 triệu/1 tháng. Mục đích anh vay tiền của anh Non A là để bù lỗ cho việc anh thuê xe cuốc trong lúc dịch bệnh Covid năm 2021 không làm được nên anh mất khả năng thanh toán nợ gốc và lãi cho anh Non A. Số tiền này là do một mình anh nợ không liên quan đến ai. Tại biên bản hòa giải ấp Phước An ngày 30/5/2022 anh có hẹn trả mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng), tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đến nay anh chưa có khả năng trả nợ cho anh Non A được.

Nay anh Non A kiện yêu cầu anh trả nợ, anh vẫn thừa nhận còn nợ anh Non A số tiền 49.000.000đồng (Bốn mươi chín triệu đồng) và đồng ý trả nhưng cho anh xin trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi hết nợ. Anh yêu cầu không tính lãi. Ngoài ra, anh không yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa anh Nguyễn Non A và anh Nguyễn Văn Tr là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có địa chỉ tại ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang nên Tòa án nhân dân huyện Gò Quao thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: ngày 20/10/2021 anh Nguyễn Văn Tr có vay của anh Nguyễn Non A số tiền 49.000.000 đồng (Bốn mươi chín triệu đồng), anh Tr có ký biên nhận nợ. Do anh Tr không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên anh Non A khởi kiện đến Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa anh Tr vẫn thừa nhận nợ và đồng ý trả cho anh Non A số tiền 49.000.000đồng (Bốn mươi chín triệu đồng) nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của anh Tr, anh thừa nhận và đồng ý trả cho anh Non A tiền số tiền 49.000.000đồng. Tuy nhiên, anh Tr cho rằng do hoàn cảnh kinh tế gia đình của anh hiện nay rất khó khăn không có khả năng trả đủ số tiền nợ một lần cho anh Non A và anh xin trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi hết nợ. Đồng thời, anh Tr cũng không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của anh Non A. Yêu cầu của anh Tr không được anh Non A đồng ý vì anh Non A cho rằng số tiền này anh Tr nợ đã lâu và anh Tr đã từng hẹn khi Ban lãnh đạo ấp giải quyết ngày 30/5/2022 nhưng anh Tr vẫn không thực hiện, do đó anh Tr phải có nghĩa vụ trả đủ nợ gốc và lãi cho anh. Xét thỏa thuận giữa anh Non A với anh Tr về nội dung vay tiền trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 463 Bộ Luật dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực thi hành. Do anh Tr vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên anh Tr phải có nghĩa vụ trả nợ gốc 49.000.000đồng và lãi suất theo yêu cầu của anh Non A từ ngày 20/10/2021 đến ngày 16/8/2022 là 9 tháng 25 ngày x 49.000.000 đồng x 0,75% = 3.607.500đồng là phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh Non A là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: 52.607.500đồng x 5% = 2.630.375đồng làm tròn số 2.630.000đồng buộc anh Tr phải nộp.

Yêu cầu của anh Nguyễn Non A được chấp nhận nên hoàn trả lại tiền tạm ứng phí mà anh Non A đã nộp là 1.715.000đồng theo biên lai thu tiền số 0008987 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, 35, 39, 92, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015; Điều 463, 466, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Non A.

Buộc: anh Nguyễn Văn Tr phải có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Non A số tiền 52.607.500đồng (Năm mươi hai triệu sáu trăm lẻ bảy ngàn năm trăm đồng).

Kể từ ngày anh Non A có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Tr chưa trả đủ số tiền nêu trên thì anh Tr còn phải chịu lãi suất theo mức lãi quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm là: 2.630.000đồng (Hai triệu sáu trăm ba mươi ngàn đồng) buộc anh Tr phải nộp.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng phí mà anh Non A đã nộp là 1.715.000đồng (một triệu bảy trăm mười lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008987 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 16/8/2022.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ