- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kim Văn L - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kim Văn L phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 33/2021/HSST Ngày 26 tháng 7 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngoan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quế
2. Ông Ngô Sỹ Lượng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/TLST- HS ngày 25 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST- HS ngày 12/7/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kim Văn L -Tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/10/1988 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nguyên quán: Xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Văn Đ sinh năm 1961, con bà Vi Thị X sinh năm 1963; có vợ: Lương Thị Th, sinh năm 1990 và có 02 con; con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/3/2021 đến ngày 19/3/2021; sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh số 19 ngày 19/3/2021 của cơ quan Cảnh sát điều tra thị xã Thái Hòa “có mặt”.
- Người bị hại:
+ Chị Tăng Thị M, sinh năm 1972 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của người bị hại Chị Tăng Thị M: Ông Tăng Minh S, sinh năm 1958. (bố chị M)
Trú tại: Xóm 2, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An “vắng mặt” (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH T. Địa chỉ: Xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An
Người đại diện theo pháp luật : Anh Đinh Quốc T, sinh năm 1976 - Chức vụ: Giám đốc.
Trú tại: Xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An “có mặt”
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đinh Trung H, sinh năm 1988.
Trú tại: Xóm Hoa T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ an “vắng mặt” (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kim Văn L lái xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) T, có giấy phép lái xe hạng FC. Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 10/3/2021, Kim Văn Là điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37H - 003.26 kéo theo rơ mooc BKS 37R - 026.04 chở gỗ keo từ xã C, huyện Q đến cảng N. lưu thông trên quốc lộ 48 hướng Qùy Hợp - Yên Lý. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, L điều khiển xe ô tô đi đến Km 35 + 900, trên cầu Hiếu 1 thuộc khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An; quan sát thấy chị Tăng Thị M điều khiển xe mô tô BKS 37L4 - 0990, phía sau xe có gắn giá chở thùng hàng trái cây di chuyển cùng chiều, tại phần đường bên phải theo hướng Quỳ Hợp - Yên Lý; L đánh lái điều khiển xe ô tô sang bên trái, đi lấn sang phần đường ngược chiều để vượt chiếc xe mô tô do chị M điều khiển. Khi đầu của xe ô tô do L điều khiển chạy song song với xe mô tô của chị M thì L phát hiện thấy phía trước có một chiếc xe buýt đi ngược chiều nên đánh lái điều khiển xe về phía bên phải để đi về phần đường của mình. Trong lúc đánh lái sang phải, do không chú ý quan sát nên mặt ngoài của bánh xe phía trước cùng bên phải của xe ô tô đã va quyệt với thành thùng hàng bên trái gắn trên xe mô tô do chị M điều khiển làm chị M và xe máy ngã xuống đường; cơ thể chị M bị dàn bánh bên phải của rơ mooc BKS 37R - 026.04 cán qua người, kéo lê trên mặt đường và tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng.
Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường lập vào lúc 11 giờ 55 phút ngày 10/3/2021; biên bản khám nghiệm xe ô tô 37H - 003.26 kéo theo rơ mooc 37R - 026.04 lập vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 10/3/2021; biên bản khám nghiệm xe mô tô BKS 37L4 - 0990 lập vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 10/3/2021; biên bản khám nghiệm tử thi chị Tăng Thị M vào lúc 12 giờ 50 phút, ngày 10/3/2021; Kết luận giám định pháp y về tử thi ngày 19/3/2021 của Hội đồng pháp y Nghệ An và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra xác định: Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do Kim Văn L điều khiển xe ô tô 37H - 003.26 kéo theo rơ mooc 37R - 026.04 vượt xe mô tô khi tham gia giao thông trên cầu hẹp, đè vạch kẻ đường màu vàng nét liền, lấn sang phần đường ngược chiều; trong lúc vượt phát hiện thấy xe ngược chiều nên đã đánh lái sang phần đường theo hướng di chuyển nhưng không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến tai nạn vi phạm khoản 23 Điều 8, điểm b khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ 2008.
Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKS ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Kim Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 - BLHS.
Tại phiên toà Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 - BLHS: Xử phạt bị cáo Kim Văn L từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
- Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH T và gia đình Kim Văn L đã tự nguyện bồi thường chi phí mai táng, cấp dưỡng nuôi con, bù đắp tổn thất tinh thần, hỗ trợ khắc phục hậu quả số tiền 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng) cho gia đình người bị hại. Tại phiên tòa ông Tăng Minh S (bố đẻ chị Tăng Thị M) là đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt và trong đơn xin xét xử vắng mặt, ông S không yêu cầu bồi thường gì thêm về mặt dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
- Về tang vật của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa đã xử lý trả lại các đồ vật, tài liệu cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp là đúng quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 106 BLTTHS, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Tang vật còn lại hiện có tại hồ sơ vụ án là 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, FC mang tên Kim Văn L số 790158218401, có giá trị đến 29/01/2024 được lưu kèm theo hồ sơ vụ án; do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
- Bị cáo; bị đơn dân sự không tranh luận gì.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hoà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy ông S, anh H đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, đồng thời trong quá trình điều tra tất cả những người vắng mặt đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào các Điều 292; 293 BLTTHS, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường trong quá trình điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Từ đó đã xác định được nguyên nhân vụ tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 11 giờ 40 phút ngày 10 tháng 3 năm 2021 tại km 35+900, Quốc lộ 48 (trên cầu Hiếu 1), thuộc địa phận khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An là do Kim Văn L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 37H- 003.26 (có giấy phép lái xe hợp lệ) kéo theo 01 (một) rơ mooc BKS 37R - 026.04 đã vi phạm khoản 23 Điều 8, điểm b khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ là vượt xe ô tô khi tham gia giao thông trên cầu hẹp, đè vạch kẻ đường màu vàng nét liền, lấn sang phần đường ngược chiều; trong lúc vượt phát hiện thấy xe ngược chiều nên đã đánh lái sang phần đường theo hướng di chuyển nhưng không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến tai nạn nghiêm trọng làm chết một người nên đã đủ yêu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 260 - BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác, xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Bị cáo là người có giấy phép lái xe theo quy định nên nhận thức được khi điều khiển xe ô tô luôn phải chấp hành đúng quy tắc giao thông để tránh gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông. Nhưng vì thiếu ý thức, không chấp hành đúng quy tắc giao thông, vượt xe không đúng quy định đã gây tai nạn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng làm một người chết nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và cần xử phạt nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo để phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; sau tai nạn và trước khi xét xử, bị cáo đã cùng với Công ty TNHH T bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền là 190.000.000đồng (một trăm chín mươi triệu đồng) nhằm khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vậy cần áp dụng Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 - BLHS để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội là do lỗi vô ý, nhân thân không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi thương trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ các điều kiện cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội như lời đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH T và gia đình Kim Văn L đã tự nguyện bồi thường chi phí mai táng, cấp dưỡng nuôi con, bù đắp tổn thất tinh thần, hỗ trợ khắc phục hậu quả số tiền 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng) cho gia đình người bị hại. Tại phiên tòa ông Tăng Minh S (bố đẻ chị Tăng Thị M) là đại diện hợp pháp cho chị M vắng mặt, nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt, ông S không yêu cầu bồi thường gì thêm về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về tang vật vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa đã xử lý đúng quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 106 BLTTHS nên hội đồng xét xử miễn xét. Tang vật còn lại là 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, FC mang tên Kim Văn L số 790158218401, có giá trị đến 29/01/2024 được lưu kèm theo hồ sơ vụ án. Xét thấy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại ngay cho bị cáo theo quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 106 BLTTHS
Đối với anh Đinh Quốc T là chủ phương tiện chiếc xe ô tô xe ô tô 37H - 003.26 và anh Đinh Trung H là chủ rơ mooc 37R - 026.04 do bị cáo điều khiển đã gây tai nạn. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được, bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định và đủ điều kiện để sử dụng xe tham gia giao thông trên đường, nên anh T, anh H không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65-BLHS:
Tuyên bố bị cáo Kim Văn L phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt bị cáo Kim Văn L 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Kim Văn L về cho UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tang vật vụ án: Căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại cho bị cáo Kim Văn L 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, FC mang tên Kim Văn L số 790158218401, có giá trị đến 29/01/2024 hiện có tại hồ sơ vụ án.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án): Buộc bị cáo Kim Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị đơn dân sự có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của những người bị hại; - Bị đơn dân sự; - Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan; - Công an thị xã Thái Hòa; - VKSND thị xã Thái Hòa; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký TrÇn ThÞ Ngoan |