- Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn C , phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HSST Ngày: 10/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN - THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thư ký Tòa án : Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Phổ
Yên, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 24/2021/HSST ngày 04/02/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXX ngày 23/02/2021, đối với bị cáo: Nguyễn Văn C ; Tên gọi khác: Không, sinh năm 1966. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Bắc Nam, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Có văn hoá: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn Lê (đã chết năm 2018); Con bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1943); bị cáo có 5 anh chị em, C là con thứ nhất; Có vợ là Nguyễn Thị C (sinh năm 1968); Vợ chồng có 02 con chung (lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1992).
Tiền án, tiền sự: Không (Theo danh, chỉ bản số 447 do Công an thị xã Phổ
Yên lập ngày 06/11/2020).
Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Văn C không bị giam giữ, áp dụng biện
pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt tại phiên tòa). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguyễn Văn D , sinh năm 1960 ĐKHKTT: TDP Ga, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên 2. Ông Nguyễn Văn H , sinh năm 1970 ĐKHKTT: TDP Đình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên ( ông D , ông H , có đơn xin xét xử vắng mặt) 3. Anh Hoàng Văn Q , sinh năm 1977 – Có mặt tại phiên toà ĐKHKTT: Xóm Giã Thù 3, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên Người làm chứng: 1. Anh Hoàng Văn L , sinh năm 1979 ĐKHKTT: Xóm Giã Thù 4, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên 2. Anh Nguyễn Văn H , sinh năm 1984 ĐKHKTT: Xóm 7c, Cồn Thoi, Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (Đều vắng mặt tại phiên toà) * Người chứng kiến: 1. Anh Vũ Văn M , sinh năm 1985 ĐKHKTT: TDP Vinh Xương, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên 2. Anh Nguyễn Thế H , sinh năm 1976 ĐKHKTT: TDP Bắc Nam, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên
(Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 22/7/2020, Tổ công tác của Công an thị xã Phổ
Yên phát hiện tại nhà của Nguyễn Văn C ở tổ dân phố Bắc Nam, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có một số đối tượng có biểu hiện tham gia “Đánh bạc” trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề. Khi tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện Hoàng Văn L (sinh năm 1979; trú tại thôn Giã Thù 4, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên); Nguyễn Văn H (sinh năm 1984; trú tại xóm 7C, xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình) và Vũ Văn M (sinh năm 1985; trú tại tổ dân phố Đình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) vừa đi từ nhà Nguyễn Văn C ra, tổ công tác yêu cầu Hải, M và Liệu quay lại nhà Cường làm việc. Quá trình làm việc H , Liệu, M và C đều khai nhận “C vừa bán số lô, số đề cho L , H và M ”. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, tạm giữ của Cường: 2.310.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 09 tờ tài liệu có kích thước khác nhau; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng - vàng (bên trong có 01 sim điện thoại số 0977962652) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng (bên trong có 01 sin số 0856678825) để làm căn cứ giải quyết.
Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu
trắng-vàng, bên trong có 01 sim điện thoại số 0977962652 thu giữ của Cường phát hiện có nhiều tin nhắn C bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn D (sinh năm 1960; trú tại tổ dân phố Ga, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên); Nguyễn Văn H (sinh năm 1970; trú tại tổ dân phố Đình, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên); Nguyễn Thế H (sinh năm 1976; trú tại tổ dân phố Bắc Nam, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) và Hoàng Văn Q (sinh năm 1977; trú tại xóm Giã Thù 3, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên).
Ngày 23 và 24/7/2020, Hoàng Văn Q tự nguyện giao nộp 01 điện thoại
nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh, Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy S8 màu xanh và Nguyễn Văn Dũng tự nguyện giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 4 màu trắng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên. Quá trình làm việc Q , H và D đều khai nhận đã sử dụng những chiếc điện thoại trên để liên lạc, nhắn tin với Nguyễn Văn C mua số lô, số đề vào ngày 22/7/2020.
Quá trình điều tra xác định: Do hám lợi nên vào ngày 22/7/2020,
Nguyễn Văn C trực tiếp bán số lô, số đề cho nhiều người thông qua việc cá cược với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng hàng ngày; người chơi mua số lô, số đề vào ngày nào thì sẽ đối chiếu với kết quả mở thưởng của ngày hôm đó. Cách thức thực hiện tỷ lệ cá cược và trả thưởng được thỏa thuận với những người chơi như sau: Đối với số đề, người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, số tiền cá cược tùy người chơi quyết định, kết quả đối chiếu với hai số cuối giải đặc biệt; tỷ lệ cá cược và trả thưởng là 1 ăn 80 lần. Đối với số lô, người chơi cũng chọn mua một hoặc nhiều số từ 00 đến 99, số tiền cá cược tính theo điểm, mỗi điểm lô tương ứng từ 22.500 đồng đến 23.000 đồng, kết quả trúng thưởng được đối chiếu với hai số cuối của tất cả các giải (27 giải); tỷ lệ cá cược và trả thưởng là người chơi mua 1 điểm lô, nếu trúng thưởng sẽ được trả 80.000 đồng, trường hợp có nhiều giải trùng nhau thì người chơi sẽ trúng tất cả các giải và vẫn tính theo tỷ lệ 1 điểm lô trúng thưởng bằng 80.000 đồng. Ngoài ra, người chơi còn có thể mua cùng một lúc hai hoặc ba cặp số bất kỳ từ 00 đến 99 gọi là lô xiên (gồm lô xiên 2 và lô xiên 3), mỗi điểm lô xiên được tính với giá 10.000 đồng; kết quả trúng thưởng được đối chiếu với hai số cuối của tất cả các giải; người chơi trúng thưởng là người chơi có tất cả các cặp số đã mua trùng với hai số cuối của một trong tất cả các giải; người trúng lô xiên hai và sẽ được trả số tiền 100.000 đồng/ 01 điểm lô, người trúng lô xiên ba sẽ được trả thưởng số tiền 400.000 đồng/ 01 điểm lô.
C khai nhận trong ngày 22/7/2020, Nguyễn Văn C đã bán số lô, số đề
cho nhiều người cụ thể như sau:
1. C bán cho Nguyễn Văn D 59 số đề và 07 số lô. Tổng số tiền Cường
bán số lô, số đề cho Dũng là 2.315.000 đồng.
2. C bán cho Nguyễn Văn H các số lô 67, 76, 40, 04, 50, 34, 00, 55, 68
mỗi số 10 điểm, mỗi điểm là 22.500 đồng; các số lô 34 là 50 điểm, mỗi điểm là 22.500 đồng. Tổng số tiền Cường bán số lô cho Hạnh là 3.150.000 đồng.
3. C bán cho Nguyễn Văn H các số đề 78, 87, 73, 37, 32, 23 28, 82 mỗi
số 5.000 đồng; các số đề 57, 07, 37 mỗi số là 10.000 đồng; số đề 87 là 30.000 đồng; các số đề 00, 55, 05, 50 mỗi số 5.000 đồng. Tổng số tiền C bán số đề cho H là 120.000 đồng.
4. C bán cho Hoàng Văn Q các số lô 36, 63, mỗi số 50 điểm, mỗi điểm là
23.000 đồng. Tổng số tiền Cường bán cho Quyết là 2.300.000 đồng.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày 22/7/2020, Hoàng Văn L , Nguyễn Văn H
và Vũ Văn M đến nhà của C hỏi mua số lô, số đề thì được Cường đồng ý. Sau đó, C bán cho Liệu số lô 58 là 5 điểm, mỗi điểm 23.000 đồng, số tiền C bán số lô cho Liệu là 115.000 đồng; C bán cho Hải số đề 58 là 60.000 đồng, số đề 48, 08 mỗi số 20.000 đồng, tổng số tiền C bán số lô, số đề cho H là 100.000 đồng; C bán cho M số đề 21 là 15.000 đồng, số đề 12 là 10.000 đồng, tổng số tiền C bán số lô, số đề cho M là 25.000 đồng.
Để có căn cứ xác định hành vi phạm tội của những người tham gia đánh
bạc trái phép ngày 31/8/2020 Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phổ Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số: 295/ĐCSH đối với số tiền thu giữ khi bắt quả tang 2.310.000đ, được niêm phong trong bì thư ký hiệu A là tiền giả hay tiền thật.
Tại Kết luận giám định số 1138/KL - KTHS ngày 08/9/2020 của phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số tiền gửi giám định trong phong bì (ký hiệu: A) là tiền thật.
Với nội dung nêu trên tại bản cáo trạng số 37/CT – VKSPY ngày 04/02/2021,
của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố Nguyễn Văn Cường về tội “ Đánh bạc” khoản 1 Điều 321 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo: Nguyễn Văn Cường về tội
“Đánh bạc” tại bản cáo trạng truy tố đã thể hiện.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án , tiền sự
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm
i, s khoản 1 Điều 51 BLHS là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Vì những căn cứ nêu trên Đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn C
phạm tội “Đánh bạc”.
*Về hình phạt chính đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1,
Điều 51 BLHS, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Cường từ 12 - 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng.
* Về hình phạt bổ sung, đề nghị HĐXX: phạt bị cáo từ 10 - 12 triệu đồng
* Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 2.31000đ; tịch thu
sung công quỹ Nhà nước 04 chiếc điện thoại di động đã thu giữ do là phương tiện phạm tội
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến tranh luận của của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm
sát, đề nghị HĐXX cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS thị xã Phổ Yên không đưa ra
quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm
của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định
tố tụng của Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để HĐXX xem xét.
Những người làm chứng và chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ đến phiên
tòa nhưng vắng mặt không có lý do, kiểm sát viên, bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc những người làm chứng và chứng kiến vắng mặt nhưng trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ nên việc vắng mặt họ không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 292 và Điều 293 BLTTHS xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.
. Về tư cách tham gia tố tụng trong vụ án: Trong vụ án này các đối tượng
khác tham gia đánh bạc với C gồm: Nguyễn Văn D , Nguyễn Văn H và Hoàng Văn Q đã dùng điện thoại di động để nhắn tin ghi số lô, số đề với bị cáo, phương tiện phạm tội (điện thoại di động) đã bị thu giữ. Do đó, xác định họ đều tham gia tố tụng với hai tư cách là:Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án, bởi đều có hành vi liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện; theo quy định của pháp luật thì họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình.
. Về căn cứ phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi, bị
cáo: Nguyễn Văn C hoàn toàn khai nhận: Do hám lợi, nên ngày 22/7/2020 Văn Cường đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho Hoàng Văn Liệu, Nguyễn Văn H , Vũ Văn M , Nguyễn Văn D , Nguyễn Văn H , Nguyễn Thế H và Hoàng Văn Q với tổng số tiền là 8.125.000đ (Tám triệu một trăm hai năm nghìn đồng) thì bị phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại quá trình điều tra và tại phiên tòa là khách
quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Do đó, HĐXX có căn cứ xác định: Hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề của Nguyễn Văn C tổng số tiền bán lô và đề là 8.125.000đ nên hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, cáo trạng số: 37/CT - VKSPY ngày 04/02/2021, của VKS nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố đối với Nguyễn Văn C về tội danh và điều luật viện dẫn tại khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng luật.
Cụ thể Điều 321 BLHS năm 2015 có nội dung:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng
tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng và phải chịu:
Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xong hành vi của bị cáo làm mất
trật tự trị an tại địa phương, cờ bạc là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, kinh tế của gia đình bản thân các bị cáo và còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung để đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi cộng đồng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo Cường được hưởng 02
tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS là ”Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến, bị nhiễm chất độc gia cam được hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học xét cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS.
. HĐXX nhận định về hình phạt cần áp dụng: Căn cứ vào các quy định
của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, cam kết chấp hành tốt pháp luật, tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận việc mua bán số lô, số đề nhằm thu lợi bất chính mặt khác số tiền đánh bạc chủ yếu là ghi nợ, tiền mặt bị cáo nhận được trong ngày 22/7/2020 là 240.000đ, số tiền bị thu giữ là tiền bị cáo bán hàng tạp hoá trong ngày không liên quan đến việc phạm tội, nay bị cáo đã biết nhận ra lỗi lầm xin HĐXX cho hưởng lượng khoan hồng của pháp luật được cải tạo tại địa phương, theo hướng có lợi cho người phạm tội, căn cứ về điều kiện cho hưởng án treo quy định tại mục 2, 3, 4 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS năm 2015, thì bị cáo có nhiều tình tiết giam nhẹ TNHS, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do đó, không cần thiết phải xử phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mà cho bị cáo được tự học tập, cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình nơi cư trú cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
.Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 3 Điều 321 BLHS thì:
“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo bán số lô, số đề mục đích thu lợi bất chính, gia đình cũng không thuộc diện hộ nghèo của địa phương nên cần phạt tiền sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo.
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên
tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ lên quan gồm: Nguyễn Văn D ,
Nguyễn Văn H , Hoàng Văn Quyết xác định đã dùng điện thoại di động nhắn tin để đánh bạc với C , điện thoại bị thu giữ nên nhất trí để sung công quỹ Nhà nước
. Vật chứng: Về số tiền thu giữ 2.310.000 VNĐ, bị cáo xác định là tiền phạm
tội thu được 240.000đ, số tiền còn lại 2.070.000đ là tiền bán hàng trong ngày của gia đình, không dùng để đánh bạc. Do vậy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước 240.000đ tiền phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; trả lại bị cáo 2.070.000đ, nhưng được tạm giữ lại để bảo đảm khoản tiền phạt và án phí.
Các vật chứng khác: 05 chiếc điện thoại di động thu giữ đã qua sử dụng và những
người liên quan dùng nhắn tin mua bán số lô, số đề cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. riêng chiếc điện thoại Iphone 6 PLus bị cáo không sử dụng ghi số lô, số đề, cần trả lại bị cáo nhưng được tạm giữ lại để bảo đảm thi hành án khoản tiền phạt và án phí của vụ án.
. Án phí : Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 của
Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
. Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người liên quan được quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
. Các vấn đề khác:
Trong vụ án này, các đối tượng Hoàng Văn L , Nguyễn Văn H , Vũ Văn
M , Nguyễn Văn D , Nguyễn Văn H , Nguyễn Thế H và Hoàng Văn Q đã có hành vi mua số lô, số đề của Cường nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ; mặt khác L , Hải, M , D , H , H và Q đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này và hành vi quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự nên hành vi của các đối tượng không cấu thành tội phạm. Công an thị xã Phổ Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ANTT bằng hình thức phạt tiền theo quy định Nghị định 167/2013/NĐ – CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn C , phạm tội “Đánh bạc”
2. Về hình phạt
*Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản
2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên nơi
bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
(Bị cáo được giải thích chế định án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật
hình sự 2015. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
*Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS phạt tiền đối
với bị cáo Nguyễn Văn C là 10.000.000đ (Mười triệu đồng chẵn)
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều
106 Bộ luật Tố tụng Hình sự .
3.1. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm:
- Tiền VND: 240.000đ (hai trăm bốn mươi ngàn đồng)
(Theo ủy nhiệm chi chuyển tiền điện tử số 33 lập ngày 09 tháng 3 năm
2021, giữa CQĐT công an thị xã Phổ Yên và Kho bạc Nhà nước thị xã Phổ Yên chuyển tiền vào tài khoản số 3949.0.1054784.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên số tiền 2.310.000đ).
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm:
01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A2 ghi 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng - vàng của Nguyễn Văn C ;
01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu Q ghi 01 điện thoại di động
nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh của Hoàng Văn Q ;
01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Sam sung Galaxy S8+ màu xanh, của Nguyễn Văn H ;
01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu D ghi 01 điện thoại nhãn
hiệu Sam sung Galaxy Note 4 màu trắng của Nguyễn Văn D ;
3.1.Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Cường gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu
Iphone 6 Plus màu trắng được niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A1 và 2.070.000đ (hai triệu không trăm bẩy mươi ngàn đồng), nhưng được tạm giữ lại để bảo đảm thi hành án khoản tiền phạt và án phí của vụ án.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa CQĐT Công an thị
xã Phổ Yên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên ngày 08 tháng 03 năm 2021).
4. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 BLTTHS
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người liên quan Hoàng Văn Q
tại phiên tòa. Báo cho biết bị cáo và người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt ông D , ông H tại phiên toà. Báo cho biết người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an thị xã Phổ Yên; - VKSND thị xã Phổ Yên; - Thi hành án thị xã Phổ Yên; - Sở Tư phâp tỉnh Thái Nguyên; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |