- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự Thào A Lầu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt tiền; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HSST Ngày 16/9/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Phan Văn Thóc
2. Bà: Lò Thị Chương
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Mào Thị Chiến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Lò Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2021/HSST ngày 28/7/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS ngày 06/9/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A L; Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1997 tại Lai Châu.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Trung Chải, xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Mông.
Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch:Việt Nam
Con ông: Thào A Th (đã chết) và con bà: Giàng Thị S (sinh năm 1976).
Hiện mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Trung Chải, xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Gia đình bị cáo có 05 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Bị cáo có vợ, con: Vợ Giàng Thị S - Sinh năm 1998. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2019.
Hiện vợ, con bị cáo đang sinh sống tại bản Trung Chải, xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2021 đến ngày 20/4/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay tại bản Trung Chải, xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà: Giàng Thị S - Sinh năm 1998
Trú tại: Bản Trung Chải, xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
(Vắng mặt tại phiên toà có lý do).
+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà: Nguyễn Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 11/4/2021, Thào A L mang theo 01 (một) gói Heroin được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, điều khiển xe mô tô BKS: 25B1-17321 theo hướng xã Pa Mu về xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn. Hồi 14 giờ 15 phút, khi đi đến Km 336+200 Quốc lộ 4H thuộc khu vực bản Trung Chải, xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, thì bị Công an xã Trung Chải phát hiện bắt quả tang thu giữ gói Heroin trên (L tự giác giao nộp) và 01 (một) xe mô tô BKS: 25B1 -17321 kèm theo đăng ký xe. Mục đích L tàng trữ trái phép Heroin là để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và trích mẫu giám định ngày 11/4/2021 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Nậm Nhùn xác định: Khối lượng 01 (một) gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Thào A L có tổng khối lượng 0,8 gam (không phẩy tám gam). Gửi toàn bộ đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 287/GĐ-KTHS ngày 17/4/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 (một) mẫu chất bột khô màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroin. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Thào A L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
T¹i phiªn toµ h«m nay vÞ ®¹i diÖn Viện kiểm sát vÉn gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè ®èi víi bÞ c¸o Thào A L theo bản cáo trạng vµ đưa ra c¸c c¨n cø, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 01 (một) gói có khối lượng là 0,8 gam (không phẩy tám gam) heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, VÞ ®¹i diÖn VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và ®Ò nghÞ HĐXX áp dụng Điểm c khoản 1 điều 249 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s kho¶n 1, 2 ®iÒu 51; Khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bÞ c¸o; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt từ 01(một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đã đưa ra một số luận cứ bào chữa cho bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bÞ c¸o, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
VÒ phÝa bÞ c¸o, t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo t¹i phiªn toµ h«m nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Giàng Thị S có lời khai tại cơ quan điều tra cho biết chiếc xe máy BKS: 25 B1-17321 kèm theo đăng ký xe thu giữ của Thào A L (xe đã qua sử dụng) là tài sản chung của gia đình, bà S không biết việc chồng bà Thào A L dùng xe máy để đi mua ma túy và tàng trữ ma túy trong người. Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà S vắng mặt tại phiên tòa có lý do và có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm nhùn, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát huyện Nậm nhùn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
VÒ hành vi phạm tội của bÞ c¸o t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
* Về Lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép 01 (một) gói có khối lượng là 0,8 gam (không phẩy tám gam) heroin để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Xét quan điểm bào chữa của bào chữa viên HĐXX thấy rằng việc đề xuất áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51BLHS. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bÞ c¸o đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.
* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Kết luận giám định số 287/GĐ-KTHS ngày 17/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo L. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan, hợp pháp có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Hồi 14 giờ 15 phút ngày 11/4/2021, tại Km 336+200 Quốc lộ 4H, thuộc bản Trung Chải, xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, Thào A L đã tàng trữ trái phép 0,8 gam (không phẩy tám gam) Heroin, với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Trung Chải, huyện Nậm Nhùn phát hiện bắt quả tang. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Thào A L phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS .
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng khó khăn của huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu và tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo học hết lớp 09/12 nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân địa phương, coi thường pháp luật. Vì vậy phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà S vắng mặt tại phiên tòa có lý do và có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Vậy HĐXX cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng thu giữ:
+ 01 (một) gói có khối lượng là 0,8 gam (không phẩy tám gam) heroin thu giữ của Thào A L gửi toàn bộ đi giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
+ Bà Giàng Thị S đã có đơn xin lại tài sản. Kết quả điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản chung của gia đình bị can nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nậm Nhùn đã ra Quyết định số 07, ngày 28/6/2021 Quyết định trả lại tài sản gồm chiếc xe máy BKS: 25 B -17321 kèm theo đăng ký xe thu giữ của Thào A L cho đại diện gia đình là bà Giàng Thị S là có căn cứ. Vậy HĐXX cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
Về án phí: BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
Trong vụ án này: Theo lời khai của Thào A L 0,8 gam Heroin bị thu giữ là bị cáo mua của người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ của đối tượng này vào ngày 11/4/2021, tại bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu với giá 200.000 đồng. Kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, nên cơ quan điều tra không thể xác định được để xử lý theo quy định của pháp luật. “Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết vấn đề nêu trên”.
V× c¸c lÏ trªn;
QuyÕt §Þnh;
1/Tuyªn bè bÞ c¸o: Thào A L ph¹m téi: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2/¸p dông điểm c kho¶n 1 ®iÒu 249; Điểm s khoản 1, 2 điều 51 BLHS.
Xö ph¹t bị cáo 01(một) năm tù “được khấu trừ thời gian tạm giữ 09 (chín) ngày”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
3/Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà S vắng mặt tại phiên tòa có lý do và có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Vậy HĐXX cần chấp nhận.
4/Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
5/ Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
¸n xö c«ng khai s¬ thÈm cã mÆt bÞ c¸o báo cho bÞ c¸o biÕt được quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.
Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biÕt được quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Nậm Nhùn; - VKSND tỉnh Lai Châu; - NCQLNVLQ - Công an huyện Nậm Nhùn; - Thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Đức Hiệp |