vanban.org

Bản án 33/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử: Phạt Nguyễn Hữu P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày Nguyễn Hữu P vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/HS-ST
Ngày: 29- 6- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Thành Phước.

Ông Huỳnh Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21//2021/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu P, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1993, tại xã M1, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp C, xã M1, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh 1970 và Nguyễn Thị Kim P1, sinh 1972; bị cáo chưa vợ, chưa con; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh 1999; tiền án: chưa; tiền sự: 01 lần, ngày 14/9/2020 bị Công an xã M1 xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Thị Kim P1, sinh 1972. Địa chỉ: ấp C, xã M1, huyện M, tỉnh Vĩnh Long- vắng mặt.

2. Dương Công B, sinh 1950. Địa chỉ: ấp C, xã M1, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 09/02/2021, bị cáo Nguyễn Hữu P đang ở nhà bạn gái tên Trần Yến L ở thành phố V, thì có một người tên là T ở tỉnh Tiền Giang (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) cho bị cáo một bịch ma túy. Bị cáo bỏ ma túy vào tay áo bên phải cất giấu. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 64G1-342.14 theo Đường 902 về xã M1. Khi đến dốc cầu Thầy Cai thì quẹo phải chạy theo lộ nhựa đến phía trước nhà trọ Vân Anh thuộc ấp C, xã M1, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo dừng xe lại để điện thoại rủ bạn đem nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) đến thuê nhà trọ để sử dụng ma túy. Chưa kịp điện thoại thì bị lực lượng Công an huyện M kết hợp Công an xã M1 kiểm tra. Lúc này, bị cáo dùng tay trái kéo tay áo của tay phải xuống làm rớt bịch nylon chứa tinh thể màu trắng, được lực lượng Công an thu giữ. Theo kết luận giám định số 75/KLGĐ-PC09 ngày 12/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long: mẫu tinh thể máu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy, có khối lượng 0,3791 gam, loại Methamphetamine.

Ngày 12/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị cáo, cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú.

Cáo trạng số: 27/CT-VKS.HMT ngày 05/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu P, đề nghị Hội động xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy Methamphetamine còn lại sau giám định. Buộc bị cáo nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Lời nói sau, bị cáo thừa nhận Cáo trạng số 27/CT-VKS.HMT ngày 05/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố là đúng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 27/CT-VKS.HMT ngày 05/5/2021 của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai người chứng kiến; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; vật chứng thu giữ; kết luận số 75/KLĐG- PC09 ngày 12/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và chứng cứ, tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo:

Như Cáo trạng số 27/CT-VKS.HMT ngày 05/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố: Vào khoảng 19 giờ ngày 09/02/2021, bị cáo được một người tên là T ở tỉnh Tiền Giang (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) cho bị cáo một bịch ma túy. Bị cáo bỏ ma túy vào tay áo bên phải cất giấu. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 64G1-342.14 đến phía trước nhà trọ Vân Anh thuộc ấp C, xã M1, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo dừng xe lại để điện thoại rủ bạn đem dụng cụ sử dụng ma túy đến thuê nhà trọ để sử dụng. Chưa kịp điện thoại thì bị lực lượng Công an huyện M kết hợp Công an xã M1 kiểm tra. Lúc này, bị cáo dùng tay trái kéo tay áo của tay phải xuống làm rớt bịch nylon chứa tinh thể màu trắng là Methamphetamine có khối lượng 0,3791 gam. Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý cất giấu ma túy trong người, xâm phạm đến khách thể của Bộ luật hình sự bảo vệ. Nên đủ cơ sở xác định bị cáo phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng số: 27/CT-VKS.KMT ngày 05/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố.

. Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:

Hành vi bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất ổn định, an ninh trật tự tại địa phương; ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư. Chúng ta biết, ma túy là chất hướng thần, người sử dụng ma túy bị gây ảo giác và dễ nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng đến tinh thần, thậm chí mất khả năng nhận thức. Ma túy là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích, cướp giật. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Bị cáo là người có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn ma túy nói chung, người tàng trữ ma túy nói riêng, nhằm giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, góp phần xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, nên cần xử lý bị cáo nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

. Về vật chứng:

Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,3252 gam. Đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy là đúng pháp luật.

Đối với xe môtô mang biển số kiểm soát 64G1- 342.14 do Nguyễn Thị Kim P1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Nguyễn Thị Kim P1 là mẹ ruột của bị cáo đã bỏ địa bàn, Cơ quan điều tra không làm việc được với Nguyễn Thị Kim P1. Xe môtô 64G1- 342.14 không liên quan đến việc thực hiện tội phạm của bị cáo, cơ quan điều tra đã trả xe môtô 64G1- 342.14 cho người quản lý hợp pháp là ông Dương Công B là ông ngoại của bị cáo là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

. Đối với đương sự T, là người cho ma túy cho bị cáo, hiện không rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra chưa điều tra xử lý đương sự T là đúng quy định.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 200. 000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội là đúng pháp luật.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử:

Phạt Nguyễn Hữu P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày Nguyễn Hữu P vào trại chấp hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 0,3252 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, do Chi cục Thi hành án dân sự huyện M quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2021.

3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho Nguyễn Hữu P.

4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tuyên:

Buộc Nguyễn Hữu P nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên án có mặt bị cáo Nguyễn Hữu P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Dương Công B, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Kim P1 vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ