- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Tiên Hoàng - Bị truy tố tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiên H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HSST Ngày 30 - 7- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tạ Văn Hải
2. Bà Đoàn Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2021/HSST ngày 15/6/2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 33/2021/HSST- QĐ ngày 19/7/2021 đối với:
1. Bị cáo Vũ Tiên H, sinh ngày 02/9/2000 tại xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Nơi cƣ trú: thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quốc N và bà Đắc Thị H; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2, bị cáo chƣa có vợ, con; Nhân thân: tháng 02/2019 nhập ngũ đến tháng 01/2021 xuất ngũ và có thành tích xuất sắc trong đợt thi đua cao điểm:“ Đoàn kết, lập công, quyết thắng”; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.
2. Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969 (đã tử vong ngày 01/3/2021 do tai nạn giao thông)
Nơi cƣ trú: thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị H:
- Ông Ngô T, sinh năm 1964( là chồng bà H)
- Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1991(là con bà H)
- Ngô Văn N, sinh năm 1997 (là con bà H)
Nơi cƣ trú: thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình
Người được người đại diện hợp pháp của bị hại ủy quyền:
- Ông Ngô T, sinh năm 1964( là chồng bà H)
Nơi cƣ trú: thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình.
3. Người làm chứng:
- Anh Vũ Minh Đ, sinh năm 2002, “có mặt”.
Nơi cƣ trú: thôn N, xã Đ, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.
- Chị Đinh Thị H, sinh năm 1972, “vắng mặt”.
Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1991, “vắng mặt”
Đều cƣ trú: thôn C xã N, huyện K tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/02/2021, bị cáo Vũ Tiên H (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, dung tích 109,1cm2 biển kiểm soát 17B7 - 345.75 chở sau anh Đ đi trên đƣờng 457 hƣớng xã Nam Cao đi xã Đình Phùng, huyện Kiến Xƣơng. Khi đi đến đoạn đƣờng thuộc địa phận thôn Cao Bạt Đoài xã Nam Cao huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình, bị cáo phát hiện thấy phía trƣớc cách đầu xe mô tô do bị cáo điều khiển có bà H đi xe đạp cùng chiều trên phần đƣờng bên phải theo chiều đi của bị cáo. Khi còn cách bà H khoảng 07m, bị cáo thấy bà H điều khiển xe đạp chuyển hƣởng từ phần đƣờng bên phải sang phần đƣờng bên trái theo chiều đi của bị cáo, bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô vƣợt bên trái xe đạp do bà H điều khiển dẫn đến phần đầu xe mô tô đã va chạm vào thân xe bên trái xe đạp do bà H điều khiển trên phần đƣờng bên trái theo chiều đi của bị cáo làm bà H và xe đạp ngã đổ xuồng đƣờng, còn bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đƣợc khoảng 03 m thì ngã đổ xuống đƣờng. Hậu quả bà H bị thƣơng tích đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình và chuyển điều trị tại Bệnh viện Lão khoa trung ƣơng từ ngày 27/02/2021 đến ngày 28/02/2021, sau đó bà H đƣợc gia đình đƣa về nhà và tử vong hồi 01 giờ 30 phút ngày 01/3/2021. Bị cáo H và anh Đkhông bị thƣơng tích gì nên không điều trị tại cơ sở y tế nào.
Khám nghiệm hiện trƣờng thể hiện:
- Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đƣờng thẳng, mặt đƣờng đƣợc rải nhựa tƣơng đối bằng phẳng, rộng 07m. Liền kề với 02 bên mép đƣờng đều có rãnh thoát nƣớc rộng 0m20, tiếp đó là bó vỉa bằng bê tông rộng 0m20, có độ xoắn là 0m15, tiếp đến là cống thoát nƣớc rộng 1m00 và lề đƣờng rộng 03m, mặt cống thoát nƣớc là lề đƣờng cao hơn so với mặt đƣờng là 0m12, tiếp đến là hai bên nhà dân sinh sống. Cách hiện trƣờng 65m về hƣớng xã Nam Cao có 01 biển báo W225 (biển báo đoạn đƣờng có trẻ em đi qua), ngoài ra không có biển báo nào khác. Hiện trƣờng ghi nhận 06 vết trƣợt xƣớc, trong đó vết (1), (3), (5), (6) nằm trên phần đƣờng bên trái hƣớng xã Nam Cao - Đình Phùng. Vết (2), (4) nằm trên bó vỉa bê tông bên trái hƣớng xã Nam Cao - Đình Phùng. Vết (1) đo (1m87 x 0m04), đo tử đầu vết (1) vào mép đƣờng trái là 0m70, đo tử cuối vết (1) vào mép đƣờng trái là 0m43. Đo tử đầu vết (1) đến đầu vết (2) là 0m60, vết (2) là đám dấu vết, đo (0m20 x 0m12), vết (2) nắm trên mặt xoài của bó vỉa bê tông , đo đầu vết (2) ra mép đƣờng trái là 0m23, cuối vết (2) cao hơn so với mặt đƣờng là 0m05. Đo từ đầu vết (2) đến đầu vết (3) là 0m64, vết (3) đo (0m05 x 0m015), đo từ đầu vết (3) ra mép đƣờng trái là 0m23, đo từ cuối vết (3) ra mép đƣờng trái là 0m25. Đo từ đầu vết (3) đến đầu vết (4) là 0m64, vết (4) đo (0m09 x 0m01), đo tử đầu vết (4) ra mép đƣờng trái là 0m21; đầu vết (4) và cuối vết (4) đều cao hơn so với mặt đƣờng là 0m05. Đo từ đấu vết (4) đến đầu vết (5) là 3m80, có số đo (0m35 x 0m01), đo từ đầu vết (5) ra mép đƣờng trái là 2m26, đo từ cuối vết (5) vào mép đƣờng trái là 2m22. Đo từ đầu vết (5) đến đầu vết (6) là 1m45, vết (6) có số đo (0m30 x 0m005), đo từ đầu vết (6) ra mép đƣờng trái là 3m21, đo từ cuối vết (6) ra mép đƣờng trái là 3m41.
Xe mô tô biển kiểm soát 17B7 - 345.75 và xe đạp đã đƣợc đƣa ra khỏi hiện trƣờng.
Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 17B7 - 345.75 sơn màu xanh - bạc - đen có các dấu vết chủ yếu sau: Mặt lăn, phần tiếp giáp má lốp, má lốp bên phải bánh lốp trƣớc tƣơng ứng vị trí chân van có vết trƣợt mất đất cát, trƣợt xƣớc cao su hƣớng từ ngoài vào tâm, ngƣợc chiều chuyển động tiến, vết đo (21x4)cm, bề mặt bám dính tạp chất màu đỏ dạng sơn. Cạnh ngoài đầu trƣớc, chắn bùn bánh trƣớc có dấu vết trƣợt xƣớc sơn nhựa hƣớng từ trƣớc về sau, bám dính tạp chất màu đỏ dạng sơn, vết đo (5 x 12)cm, vị trí cao nhất và thấp nhất của vết cách đất lần lƣợt là 56cm và 55cm. Mặt ngoài cánh yếm bên phải tại vị trí cách đầu dƣới 32cm có dấu vết trƣợt mất bụi, bề mặt in hình các đƣờng song song nhỏ đều bám dính chất bẩn hƣớng từ trƣớc về sau, vết đo (29 x11)cm, vị trí cao nhất và thấp nhất cách đất lần lƣợt là 70cm và 45cm. Đầu ngoài trục trƣớc, đầu ngoài tay nắm lái và tay phanh, cạnh ngoài bàn giậm phanh, đầu ngoài giá để chân trƣớc, đầu ngoài giá để chân sau bên phải có các dấu vết trƣợt xƣớc sơn, kim loại, cao su hƣớng từ trƣớc về sau, bề mặt bám dính bột đá và đất cát.
Khám nghiệm xe đạp sơn màu đỏ, đầu xe có 01 giỏ để hàng phía trƣớc bằng kim loại bọc nhựa màu đen có các dấu vết chủ yếu sau:
Dấu vết bên trái xe: Tại mặt sau ngoài càng bánh trƣớc có vết trƣợt xƣớc mất sơn màu đỏ hƣớng từ sau về trƣớc, bám dính tạp chất màu đen dạng cao su in hình vân talon xe mô tô, toàn vết đo (21x2)cm, vị trí cao nhất và thấp nhất của vết cách đất 50cm và 30cm. Mặt ngoài càng bánh trƣớc bên trái có dấu vết trƣợt xƣớc mất sơn màu đỏ hƣớng từ sau về trƣớc, vết đo (5,5x1,5)cm, vị trí cao nhất và thấp nhất cách đất lần lƣợt là 55cm và 49,5cm. Mặt ngoài thanh kim loại đỡ chắn bùn bánh trƣớc bên trái có dấu vết cong kim loại hƣớng từ trái sang phải, bề mặt trƣợt mất bụi, miết dính tạp chất màu đen hƣớng từ sau về trƣớc, từ trái sang phải, vết đo (11x0,5)cm, vị trí cao nhất và thấp nhất lần lƣợt là 33cm và 30cm. Mặt ngoài các nan hoa tƣơng ứng vị trí chân van rải rác có các dấu vết trƣợt mất đất cát, miết dính tạp chất màu đen hƣớng ngƣợc chiều chuyển động tiến, vết đo (14x5)cm.
Dấu vết bên phải xe: Mặt ngoài giỏ đèo hàng, đầu ngoài tay nắm lái, đầu ngoài bàn đạp, cạnh ngoài yên xe có dấu vết trƣợt xƣớc sơn, nhựa, cao su, bề ngoài bám dính đất cát. Cạnh trên giỏ đèo hàng trƣớc và đầu ngoài tay nắm lái bên phải có dấu vết trƣợt xƣớc kim loại, bám dính bột đá.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 57/PY/PC09 ngày 09/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận về nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị H: đa chấn thƣơng vùng đầu, tay và chân do tai nạn giao thông làm vỡ xƣơng sọ vùng chẩm phải, chảy máu não. Nguyên nhân chết do chấn thƣơng sọ não.
Vật chứng của vụ án:
Xe mô tô biển kiểm soát 17B7 - 345.75 sơn màu xanh - bạc - đen do bị cáo H điều khiển là tài sản hợp pháp của bị cáo, xe đạp sơn màu đỏ do bà H điều khiển là tài sản chung của bà H và ông T đều đã đƣợc Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng trả lại cho bị cáo và ông Thành ngày 27/5/2021.
Trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo cùng gia đình đã bồi thƣờng cho đại diện bị hại tổng số tiền 200.000.000 đồng (gồm chi phí mai táng 50.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 150.000.000 đồng), đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không còn yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSKX ngày 14/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Vũ Tiên H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Tiên H phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, Điều 50, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự : Xử phạt bị cáo Vũ Tiên H từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời hạn thử thách là 05 năm kề từ ngày tuyên án.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại về việc bồi thƣờng dân sự.
- Về việc xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bị cáo và xe đạp cho ông Thành nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những ngƣời làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm tử thi và kết luận giám định pháp y về tử thi, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông cũng nhƣ các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/02/2021 tại đoạn đƣờng 457 thuộc địa phận thôn Cao Bạt Đoài xã Nam Cao huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình, bị cáo Vũ Tiên H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B7 - 345.75 chở sau anh Đ hƣớng đi từ xã Nam Cao đi xã Đình Phùng. Do bị cáo H điều khiển xe mô tô vƣợt không đảm bảo an toàn nên phần đầu xe mô tô đã va chạm vào thân xe bên trái xe đạp do bà Nguyễn Thị H điều khiển đi cùng chiều phía trƣớc đang chuyển hƣớng từ bên phải sang bên trái đƣờng theo chiều đi của bị cáo. Hậu quả bà H bị đa chấn thƣơng vùng đầu, tay và chân làm vỡ xƣơng sọ vùng chẩm phải, chảy máu não và tử vong do chấn thƣơng sọ não, xe mô tô và xe đạp bị hƣ hỏng.
Hành vi của bị cáo Vũ Tiên H đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8, khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đƣờng bộ; khoản 5 Điều 5 Thông tƣ số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đƣờng bộ.
Điều 8. Luật giao thông đường bộ - Các hành vi bị nghiêm cấm
…
9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.
Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng..
Điều 14. Vượt xe.
……
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
Điều 5. Thông tư 31 - Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau đây:
….
5. Qua khu vực có trường học, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông.
Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Vũ Tiên H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khá thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
……
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
a)Không có giáy phép lái xe theo quy định;
….
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, khi tham gia giao thông bị cáo đã không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ, đã gây ra tai nạn nghiêm trọng gây thiệt hại đến tính mạng của bà H, gây mất mát đau thƣơng rất lớn cho gia đình bị hại. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt xử phạt tƣơng ứng với tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện tích cực bồi t H cho gia đình bị hại và đƣợc đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia quân đội nhân dân Việt Nam và có thành tích xuất sắc trong thời gian tham gia quân đội - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đƣợc hƣởng quy định tại điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự, có nơi cƣ trú cụ thể, rõ ràng, ngoài hành vi phạm tội lần này thì bị cáo không có vi phạm pháp luật nào khác. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc để bị cáo cải tạo ngoài xã hội không ảnh hƣởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo và sửa chữa sai lầm, sớm trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội là phù hợp với quy định của pháp luật, chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay.
Bị cáo mới xuất ngũ, chƣa có có công việc do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy bị cáo H đã thỏa thuận bồi t H cho gia đình bị hại Nguyễn Thị H tổng số tiền là 200.000.000 đồng; Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại là ông Ngô Thành chấp nhận mức bồi t H 200.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thƣờng, có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thƣờng giá trị chiếc xe đạp. Xét việc thỏa thuận trên của các bên là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại xe mô tô BKS 17B7 - 345.75 cho bị cáo và xe đạp cho ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Vũ Tiên H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 50, điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 590, Điều 591 Bộ luật dân sự; Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban t H vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
I. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiên H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ".
II. Hình phạt:
Xử phạt bị cáo Vũ Tiên H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/7/2021.
Giao bị cáo Vũ Tiên H cho Uỷ ban nhân dân xã Đình Phùng, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
III. Về trách nhiệm dân sự:
Chấp nhận việc bị cáo Vũ Tiên H đã thỏa thuận bồi thƣờng cho gia đình bị hại Nguyễn Thị H số tiền là 200.000.000 đồng (Đã bồi thƣờng xong).
IV. Về án phí:
Bị cáo Vũ Tiên H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30/7/2021, ông Thành có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. Nợi nhận:
TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- VKSND huyện Kiến Xƣơng;
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ
- CA huyện Kiến Xƣơng;
- Bị cáo;
- Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại;
- Lƣu hồ sơ.
Lê Thị Thanh Xuân
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN KIẾN XƯƠNG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH THÁI BÌNH
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân
- Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Đức Bƣờng – Phó Giám đốc Trung tâm văn hóa huyện Kiến Xƣơng.
2. Bà Nguyễn Thị Nhƣ Trang - Chuyên viên Phòng TNMT huyện Kiến Xƣơng.
Căn cứ vào Điều 199 và 222 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại phòng nghị án HĐXX sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Bị cáo Trần Quốc Toàn bị VKS truy tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên toà. HĐXX thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau:
1. Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Toàn phạm tội "Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ"
- Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về điều luật áp dụng:
- Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự 1999.
- Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về mức hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Trần Quốc Toàn 01( một ) năm tù, cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/8/2017.
- Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Về trách nhiệm dân sự:
- Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự 1999; Điều 584, Điều 585, Điều 591, Điều 601 Bộ luật dân sự 2015:
Chấp nhận việc các bị cáo Trần Quốc Toàn đã thỏa thuận bồi t H cho gia đình ngƣời bị hại Đoàn Văn Chi số tiền là 70.000.000 đồng (Đã bồi t H xong).
- Kết quả biểu quyết: 3/3.
5. Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2004:
Chấp nhận việc Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng trả lại cho bị cáo Trần Quốc Toàn chiếc xê ô tô tải biển kiểm soát 17K - 6448; trả lại cho chị Phạm Thị Hiên xe mô tô biển kiểm soát 17M1 - 7724; trả lại cho ông Nguyễn Văn Phi chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17FA - 8151 và một xe lôi tự chế ba bánh.
Trả lại cho bị cáo Trần Quốc Toàn giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 340072342694 do Sở giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 07/10/2014 - Kết quả biểu quyết: 3/3.
6. Về án phí:
- Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban t H vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban t H vụ Quốc hội:
Bị cáo Trần Quốc Toàn phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Kết quả biểu quyết: 3/3.
7. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo; ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Kết quả biểu quyết: 3/3
Biên bản lập xong. Hội đồng xét xử đã thống nhất thông qua và ký tên dƣới đây.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà |