- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HS-ST Ngày 13/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thắng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ba D và bà Nguyễn Thị Hạnh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2021/ TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/ QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09 tháng 7 năm 1991; Nơi sinh: LB, NM, NĐ, Nghệ An; Nơi cư trú: xóm TH, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Họ và tên bố: Hoàng Văn H (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Đ, sinh năm: 1965; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ: Phạm Thị X, sinh năm 1992; chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa P.
- Bị hại:
1- Cháu La Minh P, sinh năm 2005 (Đã chết);
Người đại diện hợp pháp cho bị hại La Minh P:
- Ông La Văn L, sinh năm 1975 (Bố đẻ của P - Có mặt);
- Bà Dương Thị Q, sinh năm 1980 (Mẹ đẻ của P – Vắng mặt, ủy quyền cho ông La Văn L);
Cùng địa chỉ: Xóm PH, xã PT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.
2- Cháu Chu Khánh D, sinh ngày 21/6/2005; (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị hại Chu Khánh D:
- Ông Chu Văn K, sinh năm 1968 (Bố đẻ của D - Có mặt);
- Bà Nông Thị H, sinh năm 1976 (Mẹ đẻ của D – Vắng mặt, ủy quyền cho ông Chu Văn K);
Cùng địa chỉ: Xóm LĐ, xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1- Ông Chu Văn K, sinh năm 1968; (Có mặt).
Địa chỉ: Xóm LĐ, xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.
2- Công ty TNHH HAV;
Địa chỉ: Tổ dân phố CT 1, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện theo pháp luật: Anh Trần Đỗ V, sinh năm 1980 – Giám đốc Công ty; (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn H: Bà Lê Thúy Hằng - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cho bị hại Chu Khánh D: Bà Thiệu Thị Thanh Huyền, Luật sư - Cộng tác viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/01/2021 tại Km 108 Quốc lộ 1B thuôc địa phận tổ dân phố TL, thị trấn ĐC, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô biển kiểm soát 20C – 094.16 do Hoàng Văn H, sinh năm 1991, tạm trú tại xóm TH, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên điều khiển đi hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên đã gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 27F6 – 8895 do Chu Khánh D, sinh ngày 21/6/2005, trú tại xóm LĐ, xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên điều khiển, sau xe chở La Minh P, sinh năm 2005, trú tại xóm PH, xã PT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên đi hướng Thái Nguyên – Lạng Sơn, hậu quả làm D bị thương được đưa đi cấp cứu, còn La Minh P bị tử vong trên đường đi cấp cứu, xe ô tô hư hỏng nhẹ, xe mô tô hư hỏng nặng.
Ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường thu lượm ghi nhận những dấu vết để lại tại hiện trường phục vụ công tác điều tra làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn giao thông.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường nhựa thẳng, tại Km 108 Quốc lộ 1B đoạn đi qua tổ dân phố TL, thị trấn ĐC, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên, có lòng đường rộng 15m, lề đường phải và trái là hành lang giao thông và khu nhà dân ở; Lòng đường có vạch sơ đứt đoạn màu vàng chia lòng đường thành hai phần đường. Quá trình khám nghiệm đã thống nhất lấy cột điện số 3,12 thị trấn ĐC trên hành lang bên phải (hướng Thái Nguyên – Lạng Sơn) làm mốc cố định làm chuẩn để đo các kích thước.
Tại hiện trường xe ô tô 20C-094.16 đỗ, đầu xe hướng Thái Nguyên, đuôi xe hướng Lạng Sơn, bánh trước bên trái người điều khiển xe ô tô bị xịt hơi, đèn tín hiệu bên trái đang bật; tâm trục bánh rước bên trái người điều khiển ô tô cách mép đường nhựa phải là 6,10m. Xe mô tô biển kiểm soát 27F6-8895 đổ nghiêng bên phải người điều khiển, đầu xe hướng Thái Nguyên, đuôi xe hướng Lạng Sơn, tâm bánh trước cách mép đường nhựa phải 4,2m, tâm bánh sau cách mép đường nhựa phải 5m.
Đo vuông góc từ điểm mốc cố định về phía Lạng Sơn 0,25m là điểm đầu vết mài trượt cao su trên lòng đường có chiều hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên (được đánh dấu trên sơ đồ hiện trường là vị trí số 1), vết trượt cao su này có hình vòng cung từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên), vết trượt này có kích thước dài 10,6m, rộng 0,42cm, từ vị trí điểm đầu vết trượt đo vào mép đường nhựa phải (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên) là 8m và điểm cuối vết trượt trùng với bánh sau bên phải của người điều khiển xe ô tô 20C-094.16. Từ điểm đầu vết trượt cao su 1 này đo vuông góc về phía Thái Nguyên 1.82m là điểm đầu vết mài trượt cao su trên lòng đường có chiều hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên (được đánh dấu trên sơ đồ hiện trường là vị trí số 2), vết trượt cao su này có hình vòng cung từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên), vết mài trượt cao su có kích thước dài 7,28m, rộng 0,42m, điểm đầu vết mài trượt này cách mép đường phải (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên) là 6,25m, điểm cuối vết mài trượt cao su trùng với bánh sau bên trái xe ô tô BKS 20C 094.16. Từ điểm đầu vết mài trượt cao su (được đánh vị trí số 2 trên sơ đồ hiện trường) đo vuông góc về phía Thái Nguyên 2,83m là vết cà trượt, vật chất bám dính màu đỏ, vết dầu loang, các vết chồng sát lên nhau (được đánh dấu trên sơ đồ hiện trường là vị trí số 3), vết này có hình vòng cung từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên) có kích thước dài 8,8m, điểm đầu của vết cách mép đường nhựa là điểm đầu phải (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên) là 6,15m, điểm cuối của vết trùng với tâm xe mô tô BKS 27F6-8895.
Từ điểm đầu vết cà trượt này đo vuông góc về phía Thái Nguyên 3,70m là điểm đầu của vết mài trượt cao su trên lòng đường có chiều hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên (được đánh dấu trên hiện trường là vị trí số 4), vết mài trượt cao su này có kích thước dài 3,55m, rộng 0,3m, điểm đầu của vết cách mép đường nhựa phải (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên) là 6,1m, điểm cuối của vết trùng với bánh trước bên trái người điều khiển xe ô tô BKS 20C 094.16.
Từ điểm đầu vết mài trượt cao su này đo vuông góc về phía Thái Nguyên 0,7m là tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 20C 094.16. Từ trục bánh sau bên trái của xe ô tô vuông góc về phía Thái Nguyên 1,9m là tâm vùng máu trên lòng đường (được đánh dấu trên sơ đồ hiện trường là vị trí số 7) có kích thước 20x70cm, tâm vùng máu cách mép đường nhựa phải hướng Thái Nguyên – Lạng Sơn là 6,1m, từ tâm vùng máu đo vuông góc về hướng Thái Nguyên 1,1m là tâm bánh sau xe mô tô BKS 27F6-8895 đổ nằm nghiêng bên phải người điều khiển và nằm dưới gầm xe ô tô 20C 094.16, bị xe ô tô tì sát xuống mặt đường.
Từ tâm vùng máu trên lòng đường (được đánh vị trí số 7 trên sơ đồ hiện trường) đo vuông góc về phía Thái Nguyên 3,7m là tâm vùng máu trên lòng đường (được đánh vị trí số 8 trên sơ đồ hiện trường) có kích thước (0,9x1)m, tâm vùng máu này cách mép đường nhựa phải (hướng Thái Nguyên – Lạng Sơn) là 7,9m. Dưới gầm xe ô tô 20C 094.16 có nhiều mảnh vỡ nhựa, yên xe, gương chiếu hậu,....
Kết quả khám nghiệm P tiên hai xe ô tô và mô tô liên quan đến tai nạn xác định:
* Xe ô tô BKS 20C – 094.16:
Tại ba đờ sốc phía trước bên trái người điều khiển bị méo bẹp kích thước (52x13)cm có chiều hướng từ ngoài vào trong, trên bề mặt bị bong tróc sơn, tâm vết cao cách mặt đất 54cm.
Tại tấm chắn bụi quạt gió có vết mài sạch bụi kích thước (30x41)cm.
Thanh nhíp trước trái người điều khiển có vết mài sạch bụi bẩn kích thước (7,5x7,5)cm. Thanh nhíp trước phải người khiển có vết mài sạch bụi bẩn có kích thước (7,5x6)cm.
Ba lăng dọc có vết mài sạch bụi kích thước (22x3)cm.
Thanh nối trục hai bánh trước của xe ô tô có vết mài sạch bụi rải rác kích thước (95x8)cm.
Mặt trong lốp xe bánh trước bên trái người điều khiển có vết rách cao su kích thước (7x7)cm từ tâm vết rách cách chữ E4 in trên lốp là 10cm theo chiều kim đồng hồ.
* Xe mô tô BKS 27F6 – 8895:
Vỏ nhựa ốp đồng hồ bị nứt vỡ, bung bật khớp nối.
Ốp nhựa đèn pha có vệt mài trượt bên trái kích thước (11x3)cm.
Đầu tay nắm bên phải người điều khiển bung bật núm kim loại, gãy rời tay phanh.
Toàn bộ hai cánh yếm của xe bị vỡ, giá để đồ bị bẹp méo cong vênh.
Bộ phận chế bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, trên bề mặt có vết xước kích thước (2x1)cm.
Chân phanh cong đẩy từ phía trước về sau có vết mài mòn kim loại kích thước (2,5x0,5)cm.
Vỡ bưởng máy bên phải người điều khiển kích thước (13x13)cm.
Cong đẩy để chân bên phải người điều khiển chiều hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên tì sát vào bưởng máy, rách cao su hở đầu kim loại, đầu kim loại có vết mài trượt kích thước (1,5x2)cm.
Khung xe bị cong đẩy lùi từ trước về sau; Ống xả rơi ra khỏi vị trí ban đầu.
Giá đỡ để chân bên phải người ngồi sau có vết mài kim loại kích thước (3x3)cm. Vỡ nứt ốp nhựa sườn xe bên phải, bên trái, yên xe rời ra khỏi xe.
Cần số vị cong đẩy từ trước về sau từ ngoài vào trong.
Để chân bên trái người điều khiển bị đẩy cong từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên.
Hộp bảo vệ xích bị méo bẹp kích thước (12x7)cm.
Gãy vỡ toàn bộ chắn bùn phía trước và phía sau của xe.
Kết quả khám nghiệm tử thi La Minh P xác định:
Tại đuôi mắt trái có vết sây sát da kích thước (1,5x1)cm; hai lỗ mũi có nhiều máu từ trong chảy ra.
Cằm bên trái có vết sây sát da kích thước (4,5x1)cm, toàn bộ vùng ngực bị sây sát da rải rác.
Tại mặt ngoài cánh tay, cẳng tay đến mu bàn tay phải có vết sây sát da rải rác.
Từ đầu gối, mặt trước cẳng chân đến mu bàn chân phải có vết sây sát da mài trượt.
Mặt trong cẳng chân phải có vết rách lóc da cơ kích thước (13x50)cm.
Mặt trong cẳng chân trái có vết rách da cơ có kích thước (5,5x1)cm.
Bả vai bên phải có vết sây sát da kích thước (5x3,5)cm; vùng lưng có vết sây sát da kích thước (4x2,5)cm.
Gãy khung xương sườn số 2, 3, 4, 5 bên phải và 2, 3, 4, 5, 6 bên trái.
Trong khoang ngực hai bên chứa đầy máu không đông.
Phổi phải, trái bị dập, rách rải rác.
Tại Bản kết luận pháp y về tử thi số 397/KL-KTHS ngày 04/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận nguyên nhân chết của La Minh P bị tai nạn giao thông gây tổn thương chấn thương ngực, gãy nhiều xương sườn hai bên, dập rách phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực, suy hô hấp cấp dẫn đến chết.
Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn H khai nhận:
Hoàng Văn H có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải Thái Nguyên cấp ngày 03/12/2020 có giá trị đến ngày 03/12/2025. Từ tháng 9 năm 2020 Hoàng Văn H có ký hợp đồng lái xe thuê cho Công ty TNHH HAV có trụ sở tại tổ dân phố CT 1, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 03/01/2021 H nhận nhiệm vụ lái xe BKS 20C 094.16 đi chở cát từ HNC huyện ĐT đi giao tại xã BL, huyện VN theo sự phân công của Giám đốc Công ty. Sau khi chở cát đến xã BL, H trả hàng xong. Đến khoảng 16 giờ ngày 03/01/2021 H một mình điều khiển xe ô tô BKS 20C 094.16 từ xã BL ra thị trấn ĐC theo Quốc lộ 1B hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên để về công ty. Khi H điều khiển xe đi đến Km 108 Quốc lộ 1B thuộc địa phận tổ dân phố TL thị trấn ĐC, huyện VN thì phát hiện phía trước có một chiếc xe ô tô con biển kiểm sát không nhớ đi cùng chiều cách đầu xe khoảng 4m, phía ngược chiều cách khoảng 100m có một chiếc xe buýt đang đi tới, H quan sát thấy đường vắng nên đã bật xi nhan trái xin vượt, H điều khiển đi sang trái đường phần dành cho xe đi ngược chiều, lúc này chiếc xe buýt đi ngược chiều cũng vừa đi đến và đi chậm lại để trả khách, phía sau có một chiếc xe mô tô BKS 27F6 8895 do Chu Khánh D điều khiển sau chở La Minh P đang tham gia giao thông đi đến. Do H vượt xe không đảm bảo an toàn khi có chướng ngại vật phía trước đi lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều nên đã đâm phần đầu xe ô tô phía bên người điều khiển xe mô tô của D đang đi ngược chiều làm D và P bị thương nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, P đã tử vong trên đường đi cấp cứu, còn D được đưa đi Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cấp cứu và điều trị đến ngày 22/01/2021 thì ra viện.
Ngay sau khi xảy ra tai nạn H đã đến cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai để trình báo sự việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại bệnh án ngoại khoa số 210025 ngày 22/01/2021 của Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên xác định Chu Khánh D đau nhiều vùng bụng, đau từng cơn, gãy kín mâm khuỷu trái, tràn khí trung thất, ít dịch tự do ổ bụng, lách to nghĩ đến đụng dập nhu mô lách. Chẩn đoán đa chấn thương, vỡ lách độ III, tràn khí trung thất, gãy kín mâm khuỷu trái.
Ngày 25/01/2021 và ngày 02/02/2021 bị cáo Hoàng Văn H thỏa thuận bồi thường cho gia đình La Minh P 100.000.000 đồng và bồi thường cho Chu Khánh D 10.000.000 đồng, gia đình các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20C - 094.16 là xe Công ty TNHH HAV do anh Trần Đỗ V là chủ sở hữu hợp pháp và chiếc mô tô biển kiểm soát 27F6 - 8895 là xe của ông Chu Văn K (bố đẻ của Chu Khánh D) là chủ sở hữu hợp pháp. Nên ngày 11/3/2021 và ngày 07/4/2021 cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai đã trả lại các P tiện trên cho anh V và ông K quản lý và sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 30/CT – VKSVN ngày 21/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai đã trình bày bản luận tội và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn H. Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, cụ thể: Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại Chu Khánh D 10.000.000 đồng, gia đình La Minh P 100.000.000 đồng.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mẫu máu thu tại hiện trường niêm phong vào phong bì kín ký hiệu A1; 01 một) mẫu máu thu tại hiện trường niêm phong vào phong bì kin ký hiệu A2; 01 (một) mảnh nhựa màu đỏ niêm phong vào phong bì ký hiệu A3; 01 (một) mẫu vật chất màu đỏ niêm phong vào phong bì ký hiệu A4; 01 (một) yên xe; 01 (một) bầu gương chiếu hậu; 01 (một) áo mưa; 03 (ba) chiếc dép màu đen; 02 (hai) mảnh vỡ nhựa; 01 (một) lốp ô tô có vết rách; 01 mẫu vật chất thu trong quá trình khám nghiệm xe mô tô 27-6 8895 niêm phong vào phong bì kín; 01 mẫu máu tử thi La Minh P niêm phong vào phong bì kín ký hiệu T1; 01 (một) quần bò màu đen có vết mài rách tạm giữ của Chu Khánh D; 01 (một) áo khoác màu xanh có vết rách ở cánh tay bên trái , tà áo phía trước bên trái tạm giữ của Chu Khánh D; 01 (một) phong bì mẫu vật chất thu khi khám xe 27H - 8895 niêm phong vào phong bị kín ký hiệu A1.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số 220158014472 do Sở GTVT Thái Nguyên cấp ngày 03/12/2020 mang tên Hoàng Văn H: Trả lại cho bị cáo theo quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Phần tranh luận của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn H: Đồng ý với nội dung bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ đó là người bị hại có lỗi, đề nghị xử bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo. Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho gia đình các bị hại.
Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung.
* Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cho bị hại Chu Khánh D (Vắng mặt, gửi bài bảo vệ): Xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, về phần bồi thường thiệt hại hai bên đã tự thỏa thuận bồi thường thỏa đáng, không có yêu cầu gì thêm.
* Ý kiến của người đại diện hợp pháp cho các bị hại: Ông La Văn L và ông Chu Văn K không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng án treo để cải tạo tại địa P.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cùng với những tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; Bản kết luận giám định pháp y tử thi; Biên bản khám nghiệm P tiện đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có thể xác định: Hoàng Văn H có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải Thái Nguyên cấp. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/01/2021 tại Km108 Quốc lộ 1B thuộc địa phận tổ dân phố TL, thị trấn ĐC, huyện VN, Hoàng Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20C-094.16 theo hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên do vượt xe không đảm bảo an toàn nên đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 27F6-8895 do Chu Khánh D điều khiển sau chở La Minh P. Hậu quả làm D bị thương tích 13% P bị tử vong trên đường đi cấp cứu. Sau tai nạn H đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình D 10.000.000 đồng, bồi thường cho gia đình P 100.000.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự, phía gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Hành vi của Hoàng Văn H đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định:
“ Điều 14. Vượt xe
1. ...
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt,...”.
Hành vi vượt xe khi có xe chạy ngược chiều hậu quả đã đâm va với xe mô tô chạy ngược chiều làm 01 người chết và 01 người bị thương với tỷ lệ thương tật 13% do Hoàng Văn H thực hiện đã phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định như sau: “Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
a) Làm chết người”.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Hoàng Văn H theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết một người và một người bị thương tích 13%, hành vi đó còn gây mất trật tự an toàn công cộng. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Tuy bị hại trong vụ án là người dưới 16 tuổi, nH bị cáo phạm tội không do lỗi cố ý, theo tinh thần của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tai nạn xảy ra có một phần lỗi của bị hại đó là sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông, điều khiển P tiện không có giấy phép lái xe; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo khi còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12 sau đó ở nhà lao động sản xuất, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, quá trình sống tại nơi cư trú không có vi phạm, chưa có tiền án, tiền sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, sau khi xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Đối chiếu với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại về tính mạng và sức khỏe theo yêu cầu của gia đình người bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không cần thiết phải buộc cách ly xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng cũng đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về phần dân sự: Trong giai đoạn điều tra các bên đã thỏa thuận bồi thường xong những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, đối với thiệt hại về tài sản các bên không yêu cầu giải quyết. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu bồi thường gì thêm, do vậy Hội đồng xét xử cần ghi nhận việc bồi thường giữa bị cáo và gia đình các bị hại.
Vật chứng của vụ án cần xử lý như sau: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự, cần tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kí hiệu A1 ghi 01 mẫu máu thu tại hiện trường; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A2 ghi 01 mẫu máu thu tại hiện trường; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A3 ghi 01 nhựa nhựa màu đỏ; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A4 ghi 01 mẫu vật chất màu đỏ; 01 yên xe màu đen đã bị hư hỏng 01 phần; 01 bầu gương chiếu hậu đã bị hư hỏng; 01 áo mưa màu nâu đã qua sử dụng; 03 chiếc dép màu đen đã cũ; 02 mảnh vỡ nhựa; 01 lốp ô tô đã bị rách; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A1 ghi 01 mẫu vật chất thu trong quá trình khám nghiệm xe mô tô 27F6-8895; 01 phong bì niêm phong kí hiệu T1 ghi 01 mẫu máu tử thi La Minh P; 01 quần bò màu đen có vết mài rách tạm giữ của Chu Khánh D; 01 áo khoác màu xanh có vết rách ở cánh tay bên trái, 01 vết rách ở tà áo phía trước bên trái tạm giữ của Chu Khánh D.
Cần trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe đã tạm giữ của bị cáo đang được lưu trong hồ sơ vụ án.
Xét đề nghị về áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại Chu Khánh D tại phiên toà là phù hợp cần được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra còn xác định khi tham gia giao thông đường bộ, bị hại Chu Khánh D có sử dụng chất kích thích, Cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai đã chuyển hồ sơ đến Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Võ Nhai xử phạt hành chính theo thẩm quyền. Bị hại Chu Khánh D là người trực tiếp điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh trên 50 cm3 là xe của ông Chu Văn K (bố đẻ của D) không có giấy phép lái xe theo quy định. Tuy nhiên qua điều tra xác định khi D lấy xe mô tô biển kiểm soát 20F6-8895 để tham gia giao thông ông K không biết nên không xem xét về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông của ông K.
Bởi các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
Xử phạt: Hoàng Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Văn H cho UBND xã TH, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 590 và 591 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của các bị hại, cụ thể: Bị cáo Hoàng Văn H đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Chu Khánh D 10.000.000 đồng (Mười triệu đông); đã bồi thường thiệt hại về tính mạng của La Minh P 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kí hiệu A1 ghi 01 mẫu máu thu tại hiện trường; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A2 ghi 01 mẫu máu thu tại hiện trường; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A3 ghi 01 nhựa nhựa màu đỏ; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A4 ghi 01 mẫu vật chất màu đỏ; 01 yên xe màu đen đã bị hư hỏng 01 phần; 01 bầu gương chiếu hậu đã bị hư hỏng; 01 áo mưa màu nâu đã qua sử dụng; 03 chiếc dép màu đen đã cũ; 02 mảnh vỡ nhựa; 01 lốp ô tô đã bị rách; 01 phong bì niêm phong kí hiệu A1 ghi 01 mẫu vật chất thu trong quá trình khám nghiệm xe mô tô 27F6-8895; 01 phong bì niêm phong kí hiệu T1 ghi 01 mẫu máu tử thi La Minh P; 01 quần bò màu đen có vết mài rách tạm giữ của Chu Khánh D; 01 áo khoác màu xanh có vết rách ở cánh tay bên trái, 01 vết rách ở tà áo phía trước bên trái tạm giữ của Chu Khánh D.
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai, có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Võ Nhai và Chi cục THADS huyện Võ Nhai ngày 06/7/2021).
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn H 01 giấy phép lái xe số No 220158014472 cấp ngày 03/12/2020 có giá trị đến ngày 03/12/2025.
(Tài liệu được lưu trong hồ sơ vụ án – Đã trả cho bị cáo tại phiên tòa)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện Võ Nhai; - TTTG pháp lý tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an huyện Võ Nhai; - T.H.A DS huyện Võ Nhai; - Bị cáo; - Lưu: HS, VT, T.H.A HS. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tất Thắng |