- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc Tuấn - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƢỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HS-ST Ngày : 10- 8- 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƢỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu;
2. Bà Trần Thị Minh Thâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/TLST- HS, ngày 15 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 28/2021/QĐXXST- HS, ngày 23 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Bùi Quốc T, sinh năm 1972 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú tổ 01, khu vực 01, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quốc T (chết) và bà Phạm Thị Đ (chết); vợ là Phan Thị V, có 02 con, đứa lớn sinh năm 2004, đứa nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Phạm Văn L, sinh năm 1989 (chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại Phạm Văn L:
1. Bà Trần Thị P, sinh năm 1946; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, là mẹ của Phạm Văn L đại diện theo pháp luật, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1992; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định là vợ của bị hại đại diện theo pháp luật, có mặt.
3. Phạm Nhật H, sinh năm 2010 và Phạm Nguyễn Bảo N, sinh năm 2016; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định là các con của Phạm Văn L, do chị Nguyễn Thị V là mẹ đại diện theo pháp luật.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 06 giờ 45 phút ngày 05/02/2021, Bùi Quốc T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Cửu Long, biển kiểm soát 77C-023.96 tham gia giao thông trên quốc lộ 19 hướng từ thành phố Q đi thị xã A, tỉnh Bình Định. Khi đến đoạn đường thuộc thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, T cho xe vào cây xăng dầu số 18 (bên trái đường theo chiều đi của T) để tiếp dầu vào xe, rồi điều khiển xe chuyển hướng từ cây xăng dầu ra Quốc lộ 19 để tiếp tục đi về hướng thị xã A. Trong khi chuyển hướng xe, T không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ mà cho xe chạy cắt qua vạch kẻ đường chỉ hướng đi, không nhường đường cho xe đi ngược chiều để xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 77F1-099.87 do Phạm Văn L điều khiển đi hướng ngược chiều dẫn đến tai nạn. Hậu quả Phạm Văn L bị thương tích và chết trên đường đưa đi cấp cứu, xe mô tô biển kiểm soát 77F1-099.87 bị hư hỏng.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 42/PC09 ngày 17/02/2021 của Giám định viên pháp y phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận thì nguyên nhân Phạm Văn L chết là gãy xương sườn, thủng phổi, tràn khí màng phổi dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-ĐG ngày 26/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phước kết luận thì xe mô tô biển kiểm soát 77F1-099.87 bị hư hỏng nhiều bộ phận, có tổng giá trị thành tiền là 7.640.000đ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước đã tạm giữ và xử lý vật chứng trả lại xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-023.96 cho Bùi Quốc T và trả lại xe mô tô biển kiểm soát 77F1-099.87 cho đại diện hợp pháp của bị hại là Nguyễn Thị V.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS-TP ngày 12 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước đã truy tố bị cáo Bùi Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bùi Quốc T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được sát hạch và được cấp giấy phép lái xe hạng C nên biết rõ khi tham gia giao thông phải chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ, phải nhường đường cho các xe đi ngược chiều nhưng bị cáo không tuân thủ Luật giao thông đường bộ cụ thể: Vào lúc 06 giờ 45 phút ngày 05/02/2021, Bùi Quốc T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-023.96 tham gia giao thông trên Quốc lộ 19 hướng thành phố Q đi thị xã A. Khi đến đoạn đường thuộc thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, T cho xe vào cây xăng dầu số 18 (ở bên trái đường theo chiều đi của T) để tiếp dầu vào xe, rồi điều khiển xe chuyển hướng từ cây xăng dầu ra Quốc lộ 19 để tiếp tục đi về hướng thị xã A. Trong khi chuyển hướng xe, T không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ mà cho xe chạy cắt qua vạch kẻ đường chỉ hướng đi, không nhường đường cho xe đi ngược chiều để xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 77F1-099.87 do Phạm Văn L điều khiển đi hướng ngược chiều dẫn đến tai nạn làm Phạm Văn L chết, xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và tính mạng của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại với tổng số tiền 162.000.000đ (một trăm sáu mươi hai triệu đồng), được đại diện hợp pháp của người bị hại bãi nại, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng.
Từ những đánh giá và phân tích như trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị miễn xét.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sữa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ án và phù hợp với kết luận giám định pháp y, do đó Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 06 giờ 45 phút ngày 05/02/2021 bị cáo Bùi Quốc T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-023.96 tham gia giao thông trên quốc lộ 19 hướng thành phố Q đi thị xã A, tỉnh Bình Định. Khi đến đoạn đường thuộc thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định bị cáo cho xe vào cây xăng dầu số 18 ở phía bên trái đường theo chiều đi của mình để tiếp dầu vào xe, rồi cho xe chuyển hướng từ cây xăng dầu ra Quốc lộ 19 để tiếp tục đi về hướng thị xã A, khi chuyển hướng bị cáo không chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ mà cho xe chạy cắt qua vạch kẻ đường chỉ hướng đi, không nhường đường cho xe đi ngược chiều để xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 77F1-099.87 do Phạm Văn L điều khiển đi hướng ngược chiều, dẫn đến tai nạn làm Phạm Văn L chết, xe mô tô biển kiểm soát 77F1-099.87 bị hư hỏng thiệt hại với giá trị 7.640.000đ (bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
Xét hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 11 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người nên bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và lên một mức án tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của người bị hại với tổng số tiền 162.000.000đ (một trăm sáu mươi hai triệu đồng), được đại diện hợp pháp của người bị hại viết đơn bãi nại, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân; có tinh thần bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả tốt được đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng hình phạt có điều kiện và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử là hoàn toàn phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về bồi thường thiệt hại: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Bùi Quốc T đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại với tổng số tiền 162.000.000đ (một trăm sáu mươi hai triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại đã viết đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/8/2021).
Giao bị cáo Bùi Quốc T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí HSST: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm, để sung Ngân sách nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/8/2021). Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - VKSND huyện Tuy Phước; - VKSND tỉnh Bình Định; - CQ CSĐT và CQ THAHS CA huyện Tuy Phước; - Chi cục THADS huyện Tuy Phước; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Phòng KTNV và THAHS TAND T. Bình Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Quý Phúc |