- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ninh Minh H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Ninh Minh H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HS-ST Ngày 30 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Thanh
Ông Nguyễn Mạnh Trường
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo: Ninh Minh H, sinh ngày 24/02/2003 tại Nam Định.
Nơi ĐKHKTT: xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm 8, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ninh Văn Đ, sinh năm 1979; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/04/2021 đến nay. Có mặt.
Bị hại: Ông Ninh Văn H1 (đã chết).
Đại diện theo pháp luật của ông Ninh Văn H1:
Bà Tăng Thị T; Anh Ninh Văn H2; Anh Ninh Văn H3 – Cùng địa chỉ: Xóm 9, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định;
Anh Ninh Văn Đ – Địa chỉ: Đ, TP D, tỉnh Bình Dương.
Chị Ninh Thị H - Địa chỉ: TDP B, TT C, huyện T, tỉnh Nam Định.
Đại diện theo ủy quyền của bà Tăng Thị T, anh Ninh Văn Đ, chị Ninh Thị H, anh Ninh Văn H2: Anh Ninh Văn H3 - Sinh năm 1974, Địa chỉ: Xóm 9, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
3. Người làm chứng: Bà Hoàng Thị T; Anh Ninh Văn Q. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ninh Minh H không có giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 11 giờ ngày 10/02/2021, H đến nhà chị Ninh Thị H (là chị gái con bác ruột) cạnh nhà mượn xe để mua cờ về treo dịp Tết Nguyên đán. Thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda SH BKS18E1-315.50 dung tích xi lanh 153cm3 của chị H dựng ở sân, chìa khóa vẫn treo trên xe. H đứng ngoài sân nói: “Cho em mượn cái xe”. Lúc này chị H và bố đẻ đang dọn dẹp phía sau nhà nên không biết H đến, không nghe thấy H hỏi mượn xe. H đã tự lấy chìa khóa lên xe nổ máy đi đến thị trấn Cát Thành, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mua cờ rồi đi về.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe máy đi theo hướng thị trấn Cát Thành để về nhà. Khi đi đến đường liên thôn thuộc xóm 10, xã Trực Tuấn, mặt đường đổ bê tông, rộng 3,5 m, không có vạch kẻ đường, H điều khiển xe máy đi với tốc độ khoảng 30km/h. Quan sát thấy phía trước khoảng 20m có xe đạp do ông Ninh Văn H1 điều khiển cùng chiều phía trước, trên phần đường bên phải. H tiếp tục điều khiển xe mô tô đi ở giữa đường, với tốc độ khoảng 30km/h tiến gần đến vị trí xe đạp của ông H1. Khi xe H điều khiển đi đến cách vị trí xe đạp của ông H1 khoảng 3 - 4m, gần ngã 3 giao nhau giữa đường liên thôn với đường dong xóm 10, xã Trực Tuấn, H bấm còi báo hiệu xin vượt nhưng ông H1 không điều khiển xe đi sát vào lề đường bên phải để tránh, H vẫn điều khiển xe vượt lên bên trái xe của ông H1. Khi xe mô tô H điều khiển vượt lên lúc này xe đạp của ông H1 đã đi vào khu vực ngã ba, hai xe đi song song sát nhau. Khuỷu tay phải của H va chạm vào tay trái ông H1 đang cầm tay lái làm xe đạp ông H1 bị mất lái đổ nghiêng sang trái, trượt trên mặt đường. Sau khi xảy ra va chạm, H bóp phanh làm bánh xe mô tô trượt trên mặt đường đổ nghiêng xuống dưới ruộng lúa bên mép đường trái theo hướng thị trấn Cát Thành, H bị ngã theo xe mô tô.
Hậu quả: Ông Ninh Văn H1 bị ngã xuống đường rách da cơ vùng đầu mặt, gãy nhiều xương sườn được đưa vào bệnh viện cấp cứu sau đó tử vong. Ninh Minh H bị xây sát nhẹ ngoài da không phải đi cơ sở y tế điều trị. Xe mô tô BKS 18E1 - 315.50 và xe đạp bị hư hỏng nhẹ.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 227/GĐKTHS ngày 23/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định xác định: Ông Ninh Văn H1 chết do chấn thương ngực dập rách phổi, chảy máu trong.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 26 tháng 5 năm 2021 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Ninh Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Ninh Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 65, 91, 101 BLHS xử phạt bị cáo Ninh Minh H từ 24 - 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 4 - 5 năm; giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, Trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Người đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai lưu trong hồ sơ vụ án xác nhận việc gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường 100.000.000đ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Về hình phạt đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.
Về quan điểm của Đại diện VKS, bị cáo tại phần thủ tục tranh luận: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng và đều giữ nguyên quan điểm. Ý kiến của các bên tham gia tranh luận đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ xâm phạm tới quy định về an toàn giao thông đường bộ - là khách thể được BLHS ghi nhận và bảo vệ. Cụ thể: Bị cáo đã điều khiển xe máy khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 58 Luật giao thông đường bộ và vượt xe đạp của ông Ninh Văn H1, điều khiển đi cùng chiều nơi giao nhau giữa đường liên thôn với đường dong xóm quy định tại điểm d, khoản 5, điều 14 Luật giao thông đường bộ và điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khảm nghiệm phương tiện, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai người làm chứng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhân thực được việc vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng do cẩu thả nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận:
Hành vi vi phạm về quy định an toàn giao thông khi tham gia giao thông của bị cáo Ninh Minh H dẫn đến việc ông Ninh Văn H1 tử vong đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS.
Việc VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 BLHS tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 26 tháng 5 năm 2021 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới tình tiết: bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, người đại diện của bị hải có đơn đề nghị miễn TNHS cho bị cáo, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi - Để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
Bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng – căn cứ khoản 1, khoản 1 Điều 65 BLHS - HĐXX thấy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần tuyên một mức hình phạt để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét.
Về vật chứng của vụ án là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH150I BKS 18E1-315.50 là tài sản của chị Ninh Thị H. Chị H không biết H lấy xe máy đi sau đó gây tai nạn dẫn đến hậu quả làm chết người. Chiếc xe mini màu xanh là tài sản của gia đình ông Ninh Văn H1. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị H và chiếc xe đạp mini cho gia đinh bị hại.
Xét thấy việc xử lý vật chứng của CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Đối với chị Ninh Thị H, bản thân chị H không biết việc bị cáo H lấy xe của mình nên không phạm tội.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 65, 91, 101 BLHS: Tuyên bố bị cáo Ninh Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt Ninh Minh H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Ngày 30/6/2021)
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Ninh Minh H phải nộp 200.000 đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án hoặc hoặc được tống đạt Bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - - VKSND tỉnh Nam Định + huyện Trực Ninh; - Công an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã T, huyện T; - Bị cáo; Đại diện của bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Chu Thái Hà |