- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 33/2021/HS-ST Ngày: 02/07/2021 |
HUYỆN Độc lập – Tự Do – Hạnh phúc __________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘ I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Mỹ. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Minh Suốt. Ông Bùi Anh Đức. - Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Nhường – Kiểm sát viên. Ngày 02 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2021 đối với: - Bị cáo: Phạm Tuấn L (tên thường gọi: Đ), sinh năm 1996 tại thị xã C, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm S, phường 2, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Khóm K, phường H, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn U, sinh năm 1969 (S) và bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1968 (S); Vợ và con: Chưa có vợ, con; Tiền án: 02 tiền án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 do Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt
01 năm tù tại bản án số 15/2017/HSST ngày 12/6/2017, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/5/2018; Đến ngày 27/11/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 09 tháng tù tại bản án số 50/2019/HSST ngày 27/11/2019 về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã tái phạm) chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/10/2020; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/01/2021, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt). NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 01 giờ 40 phút, ngày 25/01/2021 Phạm Tuấn L điều khiển xe mô tô biển số 94B1-083.45 đi qua nhà bạn là Bùi Thanh B ở ấp A, xã T2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng để rủ B cùng sử dụng ma túy, khi L vừa đến và đậu xe bên hông nhà của B thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy (Đội CSĐTTP về HS-KT-MT) Công an huyện X phát hiện nên L lấy 03 bịch ma túy trong túi quần đang mặc quăng xuống đất gần chỗ L đang đứng, ngay lúc này Công an bắt quả tang Phạm Tuấn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình bắt quả tang, công an thu giữ và niêm phong vật chứng gồm: - Tiền Việt Nam: 582.000 đồng, niêm phong ký hiệu gói 01/TVN. - 01 (một) bịch nylon không màu, được hàn kín, có kích thước (3,5 x 1,3) cm, bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), niêm phong ký hiệu gói 02/TVN. - 01 (một) bịch nylon không màu, được hàn kín, có kích thước (3,5 x 2) cm, bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), niêm phong ký hiệu gói 03/TVN. - 01 (một) bịch nylon không màu, loại bịch Zip chỉ đỏ, được quấn lại và dán băng keo, màu đen, có kích thước (4,3 x 3,8) cm, bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), niêm phong ký hiệu gói 04/TVN. - 01 (một) cây cân tiểu ly, đã qua sử dụng và 01 (một) cái bọc nylon, màu đen, đã qua sử dụng có kích thước (18 x 15) cm, niêm phong ký hiệu gói 05/CTL. - 01 (một) cái điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, số sê ri: R58N91XM8K, màn hình cảm ứng, màu xanh, số thuê bao: 0362818949, đã qua sử dụng, niêm phong ký hiệu gói 06/ĐTDĐ. - 01 (một) cái bóp da nam, màu xám, đã qua sử dụng và 09 (chín) cái bịch nylon, không màu, có kích thước (12 x 0,8) cm, niêm phong ký hiệu gói 07/Bóp. - 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 94B1-083.45, không nhãn hiệu, màu đen, số máy: 03D4E373569, số khung: RLCUG0610GY355963, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra thông số kỹ thuật bên trong.
- 01 (một) biển số 94B1-083.45. Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Tuấn L khai nhận như sau: Vào khoảng 14 giờ ngày 24/01/2021, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô biển số 94B1- 083.45 (xe do một người thanh niên tên H, không biết địa chỉ và lai lịch cụ thể đã cầm chiếc xe này cho bị cáo L với số tiền 4.000.000 đồng) L điều khiển xe đi từ khóm K, phường H, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng đến thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực dốc cầu Đen thì bị cáo L gặp một người đàn ông (không xác định được họ, tên, địa chỉ) L hỏi mua ma túy, người đàn ông hỏi L “Mua bao nhiêu?”, L trả lời “Mua một triệu tiền mặt với đổi hai con gà trống”. Người đàn ông lấy tiền và 02 (hai) con gà trống của L rồi đưa lại cho L 03 (ba) bịch ma túy đá, trong đó có 01 (một) bịch lớn và 02 (hai) bịch nhỏ. Sau khi lấy ma túy xong thì L bỏ 03 bịch ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước, bên trái của L rồi L điều khiển xe về nhà. Sau đó, L lấy ma túy trong bịch lớn vừa mua được ra sử dụng một ít rồi dùng băng keo màu đen quấn bịch ma túy đó lại và bỏ vào túi quần phía trước, bên trái cùng với 02 (hai) bịch ma túy nhỏ. Đến khoảng hơn 01 giờ sáng ngày 25/01/2021, L điều khiển xe biển số 94B1-083.45 đi qua nhà của bạn L là Bùi Thanh B(ở ấp A, xã T2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng) để rủ B cùng sử dụng ma túy, khi vừa đến nhà của B thì bị Công an phát hiện nên L dùng tay trái lấy 03 (ba) bịch ma túy trong túi quần L đang mặc quăng xuống đất gần chỗ L đứng thì bị Công an bắt giữ tại chỗ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Phạm Tuấn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong các tang vật đã nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 15/GĐMT-PC09 ngày 30/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: - Gói 1: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2896 gam, loại Methamphetamine. - Gói 2: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6210 gam, loại Methamphetamine. - Gói 3: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,3780 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng gửi giám định là 5.2886 gam. Hoàn lại đối tượng sau giám định gồm: 0,2800 gam mẫu tinh thể trong gói 01; 0,6036 gam mẫu tinh thể trong gói 02; 4,3567 gam mẫu tinh thể trong gói 03. Tổng khối lượng 5,2403 gam, loại Methamphetamine. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Tuấn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên đã nêu. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Tuấn L về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về kết luận giám định.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSMX ngày 17/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố bị cáo Phạm Tuấn L về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 31/CT-VKSMX ngày 17/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện X và đề nghị áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 5,2403 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) cây cân tiểu ly, đã qua sử dụng và 01(một) cái bọc nylon, màu đen, đã qua sử dụng có kích thước (18 x 15) cm; 09 (chín) cái bịch nylon, không màu, có kích thước (12 x 0,8) cm. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giao trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn L 01 (một) cái điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, số sê ri: R58N91XM8K, màn hình cảm ứng, màu xanh, số thuê bao: 0362818949, đã qua sử dụng; 01 (một) cái bóp da nam, màu xám, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 582.000 đồng không phải vật chứng liên quan đến vụ án nên trả lại cho chủ sở hữu theo quy định. Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô số máy: 03D4E373569, số khung: RLCUG0610GY355963, qua tra cứu mang biển số 94E1-245.44 do Phạm Văn Đ, sinh năm 1995, đăng ký thường trú tại ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Bạc Liêu đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay chiếc xe này đã bị mất trộm vào ngày 19/01/2021 tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bạc Liêu đang thụ lý, điều tra. Do chiếc xe là vật chứng liên quan đến vụ án khác tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bạc Liêu xử lý theo thẩm quyền; Đối với biển số 94B1-083.45 qua tra cứu là do bà Nguyễn Thu X (trú tại ấp 4, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu) đứng tên chủ sở hữu, qua xác minh Công an thị trấn H thì bà Xương hiện nay không có mặt ở địa phương, nên giao cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau; Đối với xe mô tô biển số 94B1-083.45, Phạm Tuấn L trình bày cầm từ người thanh niên tên H với số tiền 4.000.000 đồng tại thị xã C, bị cáo không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có, không có chứng cứ chứng minh Phạm Tuấn L có liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản xảy ra tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu. Nên cơ quan CSĐT không đặt ra xem xét về hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ; Đối với Bùi Thanh B qua quá trình điều tra thì B vắng mặt địa phương, đến nay chưa làm việc được, cũng không có chứng cứ chứng minh Bùi Thanh B có liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Tuấn L, nên cơ quan CSĐT Công an huyện X không đặt ra xem xét với vai trò đồng phạm là có căn cứ; Đối với người thanh niên tên H và người đàn ông bán ma túy cho Phạm Tuấn L, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện X chưa xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sở để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Về nội dung: [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Tuấn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ. Do đó, có cơ sở để xác định: Vào lúc 01 giờ 40 phút ngày 25/01/2021, tại ấp A, xã T2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng, Đội CSĐTTP về HS-KT-MT Công an huyện X đã kiểm tra và bắt quả tang Phạm Tuấn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng ma túy bị thu giữ niêm phong gửi giám định tổng khối lượng là 5.2886 gam. Hoàn lại đối tượng sau giám định tổng khối lượng 5,2403 gam, loại Methamphetamine. [3] Tại Bản kết luận giám định số 15/GĐMT-PC09 ngày 30/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Gói 1: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2896 gam, loại Methamphetamine; Gói 2: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6210 gam, loại Methamphetamine; Gói 3: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,3780 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng gửi giám định là 5.2886 gam. Hoàn lại đối tượng sau giám định gồm: 0,2800 gam mẫu tinh thể trong gói 01; 0,6036 gam mẫu tinh thể trong gói 02; 4,3567 gam mẫu tinh thể trong gói 03. Tổng khối lượng 5,2403 gam, loại Methamphetamine. [4] Mục đích của bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nói trên là để sử dụng. Cho nên, có căn cứ xác định bị cáo Phạm Tuấn L phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, cáo trạng số 31/CT-VKSMX ngày 17/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố bị cáo Phạm Tuấn L về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Tuấn L là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi để biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có 02 tiền án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 01 năm tù tại bản án số 15/2017/HSST ngày 12/6/2017, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/5/2018; Đến ngày 27/11/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 09 tháng tù tại bản án số 50/2019/HSST ngày 27/11/2019 về tội không tố giác tội phạm chưa được xóa án tích. Đến ngày 25/01/2021 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng bị bắt quả tang 5.2886 gam; khối lượng hoàn lại sau giám định là 5,2403 gam loại Methamphetamine, là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Cho nên, đối với bị cáo cần phải xử nghiêm, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và góp phần phòng chống tội phạm chung cho xã hội. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Tuấn L không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [7] Về Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ như sau: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. [8] Về xử lý vật chứng: - Đối với 0,2800 gam mẫu tinh thể trong gói 01; 0,6036 gam mẫu tinh thể trong gói 02; 4,3567 gam mẫu tinh thể trong gói 03. Tổng khối lượng 5,2403 gam, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; 01 (một) cây cân tiểu ly, đã qua sử dụng; 01 (một) cái bọc nylon, màu đen, đã qua sử dụng có kích thước (18 x 15) cm; 09 (chín) cái bịch nylon, không màu, có kích thước (12 x 0,8) cm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Đối với 01 (một) cái điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, số sê ri: R58N91XM8K, màn hình cảm ứng, màu xanh, số thuê bao: 0362818949, đã qua sử dụng; 01 (một) cái bóp da nam, màu xám, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 582.000 đồng không phải vật chứng liên quan đến vụ án nên giao trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn L theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô số máy: 03D4E373569, số khung: RLCUG0610GY355963, qua tra cứu mang biển số 94E1-245.44 do Phạm Văn
Đ, sinh năm 1995, đăng ký thường trú tại ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Bạc Liêu đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay chiếc xe này đã bị mất trộm vào ngày 19/01/2021 tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bạc Liêu đang thụ lý, điều tra. Do chiếc xe là vật chứng liên quan đến vụ án khác tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu nên Cơ quan điều tra Công an huyện X đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bạc Liêu xử lý theo thẩm quyền, nên không đặt ra xem xét; - Đối với biển số 94B1-083.45 qua tra cứu là do bà Nguyễn Thu X (trú tại ấp 4, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu) đứng tên chủ sở hữu, qua xác minh Công an thị trấn H thì bà Xương hiện nay không có mặt ở địa phương, nên giao cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau; - Đối với xe mô tô biển số 94B1-083.45, bị cáo Phạm Tuấn L trình bày cầm từ người thanh niên tên H với số tiền 4.000.000 đồng tại thị xã C, không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có, không có chứng cứ chứng minh Phạm Tuấn L có liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản xảy ra tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu. Nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đặt ra xem xét đối với Phạm Tuấn L về hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ; - Đối với Bùi Thanh B, quá trình điều tra thì B vắng mặt địa phương, đến nay chưa làm việc được, cũng không có chứng cứ chứng minh Bùi Thanh Bcó liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Tuấn L, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đặt ra xem xét với vai trò đồng phạm là có căn cứ; - Đối với người thanh niên tên H và người đàn ông bán ma túy cho Phạm Tuấn L, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X chưa xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sở để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau là có căn cứ. [9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [10] Về án phí: Bị cáo Phạm Tuấn L là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên, QUYEÁT ÑÒNH: Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Căn cứ điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn L phạm “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 25/01/2021. Về vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy: 0,2800 gam, Methamphetamine; 0,6036 gam Methamphetamine; 4,3567 gam, Methamphetamine. Tổng khối lượng 5,2403 gam, Methamphetamine khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) cây cân tiểu ly, đã qua sử dụng và 01 (một) cái bọc nylon, màu đen, đã qua sử dụng có kích thước (18 x 15) cm; 09 (chín) cái bịch nylon, không màu, có kích thước (12 x 0,8) cm. - Trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn L 01 (một) cái điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, số sê ri: R58N91XM8K, màn hình cảm ứng, màu xanh, số thuê bao: 0362818949, đã qua sử dụng; 01 (một) cái bóp da nam, màu xám, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 582.000 đồng. - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô số máy: 03D4E373569, số khung: RLCUG0610GY355963, qua tra cứu mang biển số 94E1-245.44 do Phạm Văn Đ, sinh năm 1995, đăng ký thường trú tại ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Bạc Liêu đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay chiếc xe này đã bị mất trộm vào ngày 19/01/2021 tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bạc Liêu đang thụ lý, điều tra. Do chiếc xe là vật chứng liên quan đến vụ án khác tại huyện L, tỉnh Bạc Liêu nên Cơ quan điều tra Công an huyện X đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bạc Liêu xử lý theo thẩm quyền, nên không đặt ra xem xét; - Đối với biển số 94B1-083.45 qua tra cứu là do bà Nguyễn Thu X (trú tại ấp 4, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu) đứng tên chủ sở hữu, qua xác minh Công an thị trấn H thì bà Xương hiện nay không có mặt ở địa phương, nên giao cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau. Về án phí: Bị cáo Phạm Tuấn L phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện X. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh ST; - VKSND huyện MX; - Bị cáo; - Chi cục THA.MX; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Hỗ trợ tư pháp CAMX; - Lưu hồ sơ. N g u yễn Thị Ái Mỹ | T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T H Ẩ M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |