- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đàm Văn T, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 18 tháng tù.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2021/HS-ST Ngày: 24-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN - CAO BẰNG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dong
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Út
Bà Lưu Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Nụ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Đàm Văn T; Sinh ngày 28 tháng 01 năm 1984 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 3, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chè A S sinh năm 1958; trú tại: Tổ 10, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng và bà Đàm Thị V, sinh năm 1962; trú tại: tổ 3, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 4 anh em; Vợ con: không có.
Tiền sự: không;
Tiền án: Có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản:
Tại bản án số 42/2017/ HSST ngày 29/06/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội trộm cắp tài sản.
Tại bản án số 148/2019/HSST ngày 30/12/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử 09 (Chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Nhân thân: Ngày 27/5/2013 bị Công an phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng.
Tại bản án số 94/2021/HSST ngày 28/7/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử 12 (Mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản (bản án chưa thi hành án).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hòa An từ ngày 16/6/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị H; sinh năm 1979; (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ 6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người làm chứng:
+ Anh Mạc Ngọc B; sinh năm 1985; (Vắng mặt không có lý do)
Địa chỉ: Số nhà 31, Tổ 6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
+ Anh Nguyễn Quốc H; sinh năm 1980; (Vắng mặt không có lý do)
Địa chỉ: Số nhà 063, tổ 6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 16/6/2021, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Hòa An làm nhiệm vụ tại khu vực xóm B, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng tiến hành kiểm tra hành chính đối với đối tượng Đàm Văn T khi T đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F8 – 4004 lưu thông trên đường. Qua kiểm tra đã phát hiện cách chỗ đứng của T khoảng 03 mét có 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai nhận đây là gói Heroin mình vừa vứt ra khi bị kiểm tra nên Tổ công tác đã lập biên bản, đưa người và tang vật về trụ sở cơ quan Công an huyện để phục vụ điều tra.
Bị cáo Đàm Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/6/2021, T cùng Mạc Ngọc B và một người nữa tên là L gặp nhau tại khu vực bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng rồi rủ nhau cùng góp tiền để mua ma túy về sử dụng trong đó T góp 300.000 đồng còn B, L góp mỗi người 100.000đ. Góp tiền xong T gọi điện thoại cho một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, có số điện thoại là 0877.418.371 được lưu trong danh bạ điện thoại của T là “D” để hỏi mua ma túy và được người này hẹn gặp tại cầu N thuộc xóm N, xã N, huyện H để giao dịch. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T mượn xe mô tô biển kiểm soát 11F8 – 4004 của Mạc Ngọc B một mình đi từ thành phố Cao Bằng đến chỗ hẹn và mua được 500.000đ tiền Heroin của “D” sau đó quay về, khi đến đoạn đường thuộc xóm B, xã N, huyện H thì bị cơ quan Công an kiểm tra, tạm giữ người và tang vật.
Ngày 16/6/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số chất bột màu trắng thu giữ của Đàm Văn T. Tại bản kết luận giám định số: 235/GĐMT ngày 30/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.”.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKSHA ngày 13/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng đã truy tố bị cáo Đàm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
-Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như trong hồ sơ thể hiện và nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng đã truy tố.
- Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự , xử phạt mức từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước, tổng hợp hình phạt theo quy định
- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành thực tế.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- Hoàn trả 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đen biển kiểm soát: 11F8-4004 ;số khung: RLHHC09077Y363327, số máy: HCO9E6453387 (xe đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị H.
- Tịch thu, phát mại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số hiệu Seri 1: 357289081046961; Seri 2: 357289081046979. Điện thoại này bị cáo dùng để liên lạc vào việc phạm tội.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín theo quy định mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ án: Đàm Văn T; sinh năm 1984, trú tại: Tổ 3, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt ngày 16/6/2021” mặt sau có chữ ký của đối tượng và các thành phần tham gia niêm phong.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì với bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Hòa An, Cao Bằng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do bản thân nghiện ma túy nên ngày 16/6/2021 bị cáo T đã đến cầu N thuộc xóm N, xã N, huyện H, Cao Bằng để mua 500.000 đ tiền ma túy với mục đích là để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, khi đang đi đến đoạn đường thuộc xóm B, xã N, huyện H thì bị cơ quan Công an huyện Hòa An phát hiện và bắt quả tang. Số ma túy thu giữ được qua cân xác định có tổng khối lượng là 0,3623 gam (Không phảy ba sáu hai ba gam), kết quả giám định xác định được loại là Heroin
[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 0,3623 gam heroin của bị cáo là rõ ràng, bị bắt trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang. Do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng đã truy tố là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối
lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...."
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội và gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và xã hội
Xét về nhân thân của bị cáo là người có nhân thân xấu và có tiền án cụ thể: Tại bản án số 42/2017/ HSST ngày 29/06/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội trộm cắp tài sản ( Đã chấp hành xong thời gian thử thách ngày 29/6/2019). Tại bản án số 148/2019/HSST ngày 30/12/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử 09 (Chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/7/2020). Tại bản án số 94/2021/HSST ngày 28/7/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử 12 (Mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản (bản án chưa thi hành án). Ngoài ra: Ngày 27/5/2013 bị cáo bị Công an phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của bản án số 42/2017/ HSST nhưng chưa được xóa án tích. Đối với bản án số: 148/2019/HSST, giá trị số tài sản mà bị cáo trộm cắp chưa đủ 2.000.000đ và tình tiết” đã bị kết án” tại bản án đầu tiên số 42/2017 đã được dùng làm tình tiết định tội. Do vậy, trường hợp của bị cáo T trong lần xét xử này không phải là “ Tái phạm nguy hiểm”, bị cáo không bị truy tố theo quy định tại điểm O khoản 2 Điều 249 mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 249 với tình tiết tăng nặng “ Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự . Tình tiết tăng nặng: Bị cáo tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Khối lượng ma túy khá cao nên khi xem xét mức hình phạt hội đồng xét xử cân nhắc với mức trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án số 94/2021/HSST ngày 28/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử 12 (Mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm, xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy khả năng tự cải tạo của bị cáo là không đảm bảo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung đối với xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 của tội danh này quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền là hình phạt bổ sung. Xét thấy, bị cáo bản thân nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với đối với bị cáo.
[5] Liên quan đến vụ án này còn có Mạc Ngọc B và đối tượng L: Quá trình lấy lời khai đối chất cả B và L đều không thừa nhận được góp tiền cho bị cáo T để mua túy; kết quả đối chất giữa các đối tượng với nhau cũng không làm rõ được nội dung mà bị cáo T đã khai báo nên Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An không đủ cơ sở để xem xét, xử lý đối với B và L trong vụ án này.
Về người đàn ông sử dụng số điện thoại 0877.418.371 lưu trong danh bạ điện thoại của bị cáo T là “D”. Qua xác minh chủ thuê bao số điện thoại nói trên là Nguyễn Văn H (sinh năm 1971, trú tại: 81/5/7E KP1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An đã ủy thác cơ quan Công an điều tra thành phố B, Đồng Nai tiến hành xác minh. Kết quả cho thấy có người tên là Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú như trên nhưng không có mặt tại địa phương, hiện tại đi đâu, làm gì không ai biết nên cơ quan điều tra không đủ điều kiện để mở rộng điều tra, xử lý đối với đối tượng này.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đen biển kiểm soát: 11F8-4004 , ;số khung: RLHHC09077Y363327, số máy: HCO9E6453387 (xe đã qua sử dụng), hoàn trả cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H.
- Tịch thu, phát mại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số hiệu Seri 1: 357289081046961; Seri 2: 357289081046979. Điện thoại này bị cáo dùng để liên lạc vào việc phạm tội.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín theo quy định mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ án: Đàm Văn T; sinh năm 1984, trú tại: Tổ 3, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt ngày 16/6/2021” mặt sau có chữ ký của đối tượng và các thành phần tham gia niêm phong.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/6/2021.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của Bản án số 94/2021/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đàm Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/6/2021.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Hoàn trả 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đen biển kiểm soát: 11F8-4004; số khung: RLHHC09077Y363327, số máy: HCO9E6453387 (xe đã qua sử dụng) cho chị Nguyễn Thị H, địa chỉ: Tổ 6, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Tịch thu, phát mại để nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số hiệu Seri 1: 357289081046961; Seri 2: 357289081046979, có gắn số thuê bao 0816.253.218 (loại điện thoại bàn phím, đã qua sử dụng).
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín theo quy định mặt trước phong bì ghi “Vật chứng vụ án: Đàm Văn T; sinh năm 1984, Trú tại: Tổ 3, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt ngày 16/6/2021” mặt sau có chữ ký của đối tượng và các thành phần tham gia niêm phong.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/9/2021.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đàm Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người CQLNVLQ - Công an huyện Hòa An; - VKSND huyện Hoà An; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - TAND tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng; - Chi cục THADS Hòa An; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Dong |