vanban.org

Bản án 33/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 30/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo in hư ng án treo của bị cáo Bùi Văn T

S a bản án s th m số 09b/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. C thể: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Tàng trữ, s d ng trái ph p vật liệu nổ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T và Đồng phạm phạm tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ. - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phé…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo in hư ng án treo của bị cáo Bùi Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s; Điều 17 Bộ luật hình s; Điều 305 Bộ luật hình s phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/HS-PT
Ngày: 30-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Ông Vũ Văn Túc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quốc Hùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 30 tháng 7 năm 2021 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình t

phúc th m c ng khai v án hình s phúc th m th lý số 32/2021/TLPT-PT ngày 14/6/2021 đối với các bị cáo: Bùi Văn T và đồng phạm do c kháng của bị cáo Bùi Văn T đối với bản án hình s s th m số 09b/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

* Bị cáo kháng cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 01/01/1975, tại Hòa Bình. N i cư trú: m Lư ng Thành, ã Lạc Lư ng, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Văn h a: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động t do; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Con ông: Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị L. Có vợ là: Bùi Thị L1; có 02 con: Lớn sinh năm 2001 và con nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền s : Kh ng

Hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi n i cư trú; Được triệu tập, c mặt tại phiên toà

* Bị cáo không kháng cáo:

Bùi Văn H, sinh ngày 12/5/1991; trú tại: m Lư ng Thành, ã Lạc Lư ng, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

(Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được t m tắt như sau:

Khoảng tháng 6 năm 2017 Bùi Văn T đi làm thuê tại mỏ đá của C ng ty 36.97 thuộc Bộ quốc phòng tại m Sòng, ã Liên S n, huyện Lư ng S n, tỉnh Hòa Bình; quá trình làm việc tại đây T c cất dấu được 1,5kg thuốc nổ và 13 kíp điện. Sau khi nghỉ việc T mang số vật liệu nổ trên về nhà cất dấu tại chuồng bò của gia đình với m c đích khi cần sẽ s d ng. Đến tháng 5 năm 2020 T mua máy khoan để đi khoan phá đá cho những người c nhu cầu khoan phá đá. Đầu tháng 8 năm 2020 T gặp ng Bùi Văn S là người c nhu cầu khoan phá đá, hai bên cho nhau số điện thoại để trao đổi khi cần thiết. Đến tối ngày 05/9/2020 ng S gọi điện cho T bảo sáng h m sau lên nhà ng S để khoan phá đá, T đồng ý. Đến 8 giờ sáng ngày 06/9/2020 T lái máy cày ch máy n n khí, thiết bị khoan đến nhà ng S, khi đến n i T được ng S chỉ chỗ khu v c cần khoan phá đá và thống nhất tiền c ng là 2.000.000 đồng, sau đ T lắp máy và khoan lỗ, khoan đến trưa thì T về nhà nghỉ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Bùi Văn H đến nhà T ch i, sau khi n i chuyện T rủ H cùng đi đến nhà ng S giúp T đổ nước làm mát máy p khí để T th c hiện việc khoan đá nổ mìn, H đồng ý. Sau đ H dùng xe mô tô BKS 35F9-4214 ch T đến nhà ông S. Đến n i T dặn H để ý khi nào nước trong máy p khí s i lên thì đổ nước để làm máy máy, sau đ T nổ máy và tiếp t c khoan đá, còn H thì cạnh tr ng máy p và đổ nước. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, T khoan được 13 lỗ khoan thì nghỉ và bảo H ch về nhà lấy thuốc nổ và kíp điện đã cất dấu từ trước. Sau khi lấy được thuốc nổ và kíp điện T và H quay lại bãi đá, tại đây T lấy kíp nổ ra đặt uống đất và dùng 01 chai nh a đã cắt sẵn đong thuốc nổ cho vào các lỗ khoan, còn H dọn dẹp đồ đặc để tránh đá văng. Sau đ T và H cho các kíp nổ và thuốc nổ uống các lỗ khoan thì bị phát biện và bắt quả tang.

Tại bản án số 09b/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã t quyết định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Tàng trữ, s d ng trái ph p vật liệu nổ.

Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình s . X phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án s th m còn quyết định về tội danh, hình phạt và quản lý trong thời gian th thách đối với bị cáo H; lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 10/5/2021 bị cáo Bùi Văn T kháng cáo in được hư ng án treo.

Tại phiên tòa phúc th m bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận. Về nội dung: Tòa áp cấp s th m đã t bị cáo về tội: Tàng trữ, s d ng trái ph p vật liệu nổ theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình s là c căn cứ, đúng pháp luật. Đối với kháng cáo của bị cáo Viện kiểm sát c quan điểm như sau:

Tòa án cấp s th m đã em t các tình tiết giảm nhẹ phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên đây là v án đồng phạm giản đ n, bị cáo phạm tội chưa được hư ng lời; bị cáo c trình độ văn h a thấp. Bị cáo T là người c nhân thân tốt, c n i cư trú c thể rõ ràng. X t thấy kh ng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống ã hội mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phư ng quản lý cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hư ng án treo kh ng trái với quy định tại Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng th m phán TANDTC hướng dẫn áp d ng điều 65 Bộ luật hình s về án treo. Đề nghị Hội đồng t : s a án s th m giữ nguyên án s th m về tội danh, hình phạt cải biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu c trong hồ s v án, căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

Về tố t ng: trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố, t v án này các c quan và người tiến hành tố t ng cấp s th m đã th c hiện đúng các quy định của Bộ luật tố t ng hình s . Sau khi t s th m và trong thời hạn luật định bị cáo c kháng cáo hợp lệ được chấp nhận.

Về nội dung: Tại các tài liệu c trong hồ s v án, kết luận điều tra cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc th m đều thể hiện: Do công việc là làm nghề phá đá nên ngày 06/9/2020 Bùi Văn T nhận đã nhận lời tiến hành khoan phá đá theo thỏa thuận như trước với ng S để lấy 2.000.000 đồng tiền c ng. Tại bãi đá nhà ông S, T lắp đặt các thiết bị khoan phá đá và tiến hành khoan đến trưa thì về nghỉ. Khoảng 14 giờ chiều Bùi Văn H sang nhà T ch i, T rủ H đi cùng để H đổ nước làm mát máy n n khí cho T, H đồng ý. Cả hai đến nhà ng S và tiếp t c khoan được 13 lỗ, sau đ H ch T về nhà lấy thuốc nổ và kíp điện đem đến nhà ông S, khi T đang tra thuốc và kíp vào các lỗ khoan thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại c quan điều tra, tại phiên tòa s th m và phiên tòa phúc th m bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ c quan điều tra đã thu thập, ác minh c trong hồ s v án. Tòa án cấp s th m đã căn cứ khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình s

phạt bị cáo về tội: Tàng trữ, s d ng trái ph p vật liệu nổ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hư ng án treo của bị cáo Bùi Văn T Hội đồng t phúc th m t thấy:

Tại phiên tòa s th m, phúc th m bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tòa án cấp s th m đã đánh giá tính chất, mức độ, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình của bị cáo, phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo trong v án th c hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giản đ n, kh ng c s phân chia vai trò và nhiệm v trong việc th c hiện tội phạm, hành vi th c hiện tội phạm của bị cáo do nhận thức kém, kh ng hiểu biết về pháp luật; phạm tội chưa được hư ng L; hành vi phạm tội đã được phát hiện ngăn chặn kịp thời nên kh ng ảy ra hậu quả. Bản thân bị cáo T là người c trình độ văn h a thấp kh ng thể t đọc viết được mà chỉ viết được tên mình; bị cáo là người c nhân thân tốt, c n i cư trú c thể rõ ràng, lu n chấp hành tốt các chính sách tại địa phư ng n i cư trú. Do vậy kh ng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống ã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phư ng quản lý cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hư ng án treo kh ng trái với quy định tại Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng th m phán TANDTC hướng dấn áp d ng Điều 65 Bộ luật hình s về án treo. Do đ , c căn cứ chấp nhận kháng cáo in được hư ng án treo của bị cáo.

Bị cáo Bùi Văn T không phải chịu án phí hình s phúc th m.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình s ;

Chấp nhận kháng cáo in hư ng án treo của bị cáo Bùi Văn T

S a bản án s th m số 09b/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. C thể:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Tàng trữ, s d ng trái ph p vật liệu nổ.

2. Về điều luật áp d ng và hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình s .

X phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc th m.

Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Lạc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Bùi Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về án phí: Áp d ng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố t ng hình s và Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vị Quốc hội.

Bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình s s th m, kh ng phải nộp án phí hình s phúc th m.

4. Các quyết định khác của bản án hình s s th m số: 09b/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình không có kháng cáo, kháng nghị c hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m c hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án 30/7/2021.

Cỡ chữ