vanban.org

Bản án 33/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Kim Thị L được ly hôn với anh Danh Cầm N.

Về con chung: Giao cháu Danh Thị Lin Đ, giới tính nữ, sinh ngày 29/10/2012 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng (cháu Đ đang chung sống với chị L), anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Về tài sản chung v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Kim Thị L tranh chấp ly hôn với anh Danh Cầm N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Kim Thị L được ly hôn với anh Danh Cầm N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 33/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2021
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Hoàng Vũ.

2. Bà Quách Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/5/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Kim Thị L, sinh năm 1991 (Có mặt)

Địa chỉ: Số 219, Khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Danh Cầm N, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Kim Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh N kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi cưới nhau vợ chồng chị và anh N sinh sống tại nhà cha mẹ ruột của chị L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau cả hai không đồng quan điểm nên xãy ra nhiều mâu thuẫn cự cải không thể chung sống được. Năm 2014 anh N đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, chị L xác định chị và anh N sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị L xác định vợ chồng có 01 con chung tên Danh Thị Lin Đ, giới tính nữ, sinh ngày 29/10/2012, từ khi ly thân đến nay chị L là người trực tiếp nuôi con, chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N để anh trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng anh N không nộp bản tự khai cho Tòa án, cố tình trốn tránh, vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định; tuy nhiên bị đơn vi phạm những quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh N. Về con chung đề nghị giao cháu Danh Thị Lin Đ, giới tính nữ, sinh ngày 29/10/2012 cho chị L nuôi dưỡng, về cấp dưỡng chị L không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của anh N không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N.

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị L yêu cầu ly hôn với bị đơn anh N và có yêu cầu giải quyết về nuôi con chung. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh N có nơi cư trú tại ấp Vĩnh Thạnh, xã Phong Đông, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị L và anh N xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2011, anh và chị đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Phước vào ngày 08/4/2012 và được cấp giấy đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị L với anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng vẫn không thể hàn gắng được do anh N cố tình vắng mặt. Nay chị L yêu cầu ly hôn nhưng anh N không có thiện chí hàn gắng hạnh phúc gia đình, anh không có văn bản thể hiện ý kiến gì để Tòa án xem xét, cố tình vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Mặt khác, chị L và anh N đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó áp dụng Điều 56 (Ly hôn theo yêu cầu của một bên) của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị L xác định trong thời gian chung sống vợ chồng chị có 01 con chung tên Danh Thị Lin Đ, giới tính nữ, sinh ngày 29/10/2012, hiện cháu Đ đang chung sống với chị L, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của cháu Đ được chung sống với chị L, từ khi chị L và anh N sống ly thân cho đến nay chị L là người trực tiếp nuôi con, cuộc sống của con được đảm bảo, chính quyền địa phương xác nhận chị L có đủ điều kiện nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81 (quy định về việc trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn) của Luật hôn nhân và gia đình 2014, giao cháu Danh Thị Lin Đ, giới tính nữ, sinh ngày 29/10/2012 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 82 (quy định nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn) của Luật hôn nhân và gia đình 2014, anh N là người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ, chị L phải chịu toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Kim Thị L được ly hôn với anh Danh Cầm N.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Thị Lin Đ, giới tính nữ, sinh ngày 29/10/2012 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng (cháu Đ đang chung sống với chị L), anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và không thiếu nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Kim Thị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0003503 ngày 01/04/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; chị L đã nộp đủ án phí.

5. Nguyên đơn chị L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ