vanban.org

Bản án 33/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M được ly hôn với anh Đào Mạnh H.

Về con chung: Giao 2 con chung là Đào Quỳnh Anh – sinh ngày 08/5/2015 và Đào Diệu Linh – sinh ngày 16/02/2017 cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi chị M có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Không ai được ngăn cản quyền thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M được ly hôn với anh Đào Mạnh H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA-TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2021/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2021
(V/v: Tranh chấp HNGĐ)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Tuyết - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn TH - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2021/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2021 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M – SN 1995 (xin xử vắng mặt)

Quê quán: xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội

Nơi ĐKHKTT: thôn Tử Dương, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội

* Bị đơn: Anh Đào Mạnh H – SN 1989 (xin xét xử vắng mặt)

HKTT và nơi ở: thôn Tử Dương, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh M trình bày: Chị kết hôn với anh Đào Mạnh H trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Thành vào ngày 14/10/2014. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cã vã chửi bới lẫn nhau. Vợ chồng không có tiếng nói chung, không có chung quan điểm sống. Anh H ham vui, chơi bời, không có trách nhiệm không cùng vun vén hạnh phúc gia đình. Chị nhiều lần góp ý mong muốn anh H thay đổi để cùng nhau xây dựng hạnh phúc. Tuy nhiên, sau thời gian dài anh vẫn không thay đổi. Nhiều lần anh hứa hẹn sửa đổi nhưng vẫn không thay đổi mà ngày càng lún sâu vào chơi bời, nhiều khi chơi bời thâu đêm suốt sáng. Anh đi làm nhưng không đóng góp kinh tế để nuôi con và trang trải cuộc sống, hoặc nếu có thì chỉ là rất ít. Đối với con anh H cũng không có trách nhiệm, kể cả những lúc con ốm đau, mà cứ ỷ lại vào vợ và ông bà ngoại; đã vậy, anh H còn cục cằn hỗn láo với người lớn, không tôn trọng người khác. Nay cuộc sống chung với anh H không thể kéo dài, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân nên chị xin được ly hôn với anh H để giải thoát tình trạng vợ chồng hiện nay.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đào Quỳnh Anh – sinh ngày 08/5/2015 và Đào Diệu Linh – sinh ngày 16/02/2017. Hiện nay các con đang ở với chị M. Sau khi ly hôn chị xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Lý do chị xin được nuôi cả hai con là vì từ khi sinh 2 con đến nay vẫn chỉ có mình chị và sự bao bọc của bên ngoại để nuôi con còn anh H không có trách nhiệm gì. Bản thân anh H hiện không có công việc và thu nhập ổn định, còn chị thì thu nhập và công việc ổn định, thu nhập của chị đảm bảo nuôi con, cuộc sống của các con rất tốt.

Về tài sản, công nợ, công sức chung: Chị M xác nhận đều không có gì nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Đào Mạnh H trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Quỳnh M trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Thành vào ngày 14/10/2014. Trong quá trình chung sống thỉnh thoảng xảy ra mâu thuẫn cãi cọ nhau nhưng chỉ vì miếng cơm, manh áo. Vợ chồng nhiều lúc không hiểu nhau; tuy vậy, nếu chị M xin ly hôn anh không đồng ý vì vẫn còn tình cảm với chị M. Trong thời gian gần đây vì chị M không hiểu cho anh và có những thái độ xúc phạm anh, dẫn đến việc anh chán nản, lao vào chơi bời, anh thừa nhận có nghiện ngập (ma túy) và không quan tâm gì đến gia đình. Nhiều lần anh hứa với chị M thay đổi để vợ chồng đoàn tụ chung sống nhưng chị M vẫn lạnh nhạt không cho anh cơ hội. Nay, nếu chị M cương quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật và anh xin được vắng mặt.

Về con chung: Anh H cũng thừa nhận vợ chồng có 02 con chung là Đào Quỳnh Anh – sinh ngày 08/5/2015 và Đào Diệu Linh – sinh ngày 16/02/2017. Do công việc của anh không ổn định, cùng với việc các con đang ở ổn định với chị M nên anh đồng ý để chi M tiếp tục nuôi cả hai con. Việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn để anh tự nguyện và anh sẽ có trách nhiệm với con.

Về tài sản, công sức và nợ chung: Anh H cũng thừa nhận vợ chồng đều không có gì nên không yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết.

Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương xã Cao Thành cho biết: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M và anh Đào Mạnh H đều có HKTT: thôn Tử Dương, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội. Anh chị có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Thành vào ngày 14/10/2014. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nguyên nhân là do anh H chơi bời, nghiện ma túy nhiều năm nay, anh H sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, mâu thuân vợ chồng căng thẳng dẫn đến việc chị M phải mang theo cả hai con về quê mẹ đẻ ở Phúc Thọ sinh sống từ nhiều năm nay. Vợ chồng đã có thời gian dài sống ly thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Do nguyên đơn, bị đơn đều xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét lời trình bày của chị Nguyễn Thị Quỳnh M và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, trong thời gian chung sống giữa chị M và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ. Vợ chồng đã có thời gian dài sống ly thân. Do đó xác định mâu thuẫn giữa chị M, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M và anh Đào Mạnh H đều có HKTT tại huyện Ứng Hòa, chị M làm đơn ly hôn, nộp các tài liệu kèm theo và đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thụ lý, giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qúa trình giải quyết vụ án chị M, anh H đều được nhận các văn bản tố tụng, đều có lời khai, quan điểm, đều đã được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và đều xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.

Về hôn nhân: Chị M và anh H có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị M, anh H sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H chơi bời, mắc phải tệ nạn xã hội dẫn đến không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Anh H đã nhiều lần hứa hẹn sửa chữa, thay đổi, chị M cũng nhiều lần cho anh H cơ hội để vợ chồng chung sống nuôi dạy con nhưng anh H vẫn vậy nên chị đành bỏ mặc dẫn theo con về nhà đẻ ở từ tháng 10/2020 cho đến nay. Mặc dù anh H không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, HĐXX thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị M, anh H là căng thẳng, trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của chị M là phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đào Quỳnh Anh – sinh ngày 08/5/2015 và Đào Diệu Linh – sinh ngày 16/02/2017. Căn cứ vào sự thống nhất của chị M và anh H về việc để chị M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung; đồng thời, chị M không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi. Xét việc thỏa thuận này của các đương sự là tự nguyện nên HĐXX chấp nhận.

Về tài sản, công sức và công nợ chung: Chị M, anh H đều xác nhận là không có gì nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí; nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M được ly hôn với anh Đào Mạnh H.

Về con chung: Giao 2 con chung là Đào Quỳnh Anh – sinh ngày 08/5/2015 và Đào Diệu Linh – sinh ngày 16/02/2017 cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi chị M có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Không ai được ngăn cản quyền thăm hỏi con chung.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị M đã nộp theo biên lai số 0057071 ngày 18 tháng 5 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ