vanban.org

Bản án 33/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Trúc L.

1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Trúc L được ly hôn với anh Phạm Thành V. 2/Về con chung: Giao cháu giao Phạm Quang V2, sinh ngày 01/7/2013 cho chị Lê Thị Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng. Giao Phạm Bảo N, sinh ngày 05/6/2015 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị T ly hôn, nuôi con với anh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Trúc L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 33/2021/HNGĐ – ST
Ngày: 17-5-2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đinh Cường

2. Ông Nguyễn Văn Phẩm

-Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Bà Nguyễn Hồng Phấn – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 270/2020/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc: “Xin ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐST – HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Trúc L, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp BT, xã HT, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Hiện cư trú: ấp T2, xã HT, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

* Bị đơn: Anh Phạm Thành V, sinh năm: 1986

Địa chỉ: ấp BT, xã HT, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 7 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Trúc L trình bày: Nguyên vào đầu năm 2013, chị với anh Phạm Thành V tiến đến hôn nhân là do tìm hiểu và tự nguyện được gia đình hai bên chấp nhận, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vào ngày 30/3/2013, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã HT, huyện M, tỉnh Vĩnh Long đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2013.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn làm cho cuộc sống gia đình không còn êm ấm nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm lẫn nhau đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Hiện hai vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu xin được ly hôn với anh Phạm Thành V. Con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Phạm Quang V2, sinh ngày 01/7/2013, hiện đang sống với mẹ và Phạm Bảo N, sinh ngày 05/6/2015, hiện đang sống với cha. Khi ly hôn, chị Linh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V2, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con; chị tự nguyện giao cháu N cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 31 tháng 3 năm 2021, ông Phạm Văn H là cha của Phạm Thành V trình bày: Phạm Thành V là con ruột và Lê Thị Trúc L là con dâu của ông. Vợ chồng Linh, V phát sinh mâu thuẩn hơn 04 năm nay, chị L đã dẫn đứa con lớn là Phạm Quang V2 về cha mẹ ruột sống, hiện đứa con nhỏ là Phạm Bảo N đang sống bên gia đình ông, gia đình hai bên đã khuyên bảo, hàn gắn nhiều lần để chị L và anh V đoàn tụ nhưng không được.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn anh Phạm Thành V nhưng anh V vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị Trúc L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Phạm Thành V vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Lê Thị Trúc L được ly hôn với anh Phạm Thành V. Giao cháu Phạm Quang V2, sinh ngày 01/7/2013 cho chị Lê Thị Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng; giao Phạm Bảo N, sinh ngày 05/6/2015 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng. về cấp dưỡng dưỡng nuôi con, không yêu cầu nên không giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết. Về án phí: chị L nộp 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Thành V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Trúc L và anh Phạm Thành V kết hôn theo phong tục tập quán có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, huyện M, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 30/3/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh V là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẩn vợ chồng: xét thấy chị L cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận sau đó bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm lẫn nhau dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẩn mỗi ngày càng trầm trọng nên chị đã dẫn con chung là Phạm Quang V2 về cha mẹ ruột sống khoảng hai năm nay. Anh V đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng anh V vắng mặt không có lý lo. Tại biên bản xác minh ngày 31 tháng 3 năm 2021, ông Phạm Văn H là cha anh V cũng cho rằng mâu thuẩn giữa chị L và anh V như chị L trình bày là đúng, gia đình hai bên có hòa giải đông viên nhưng không được, con chung của vợ chồng như chị L trình bày là đúng, những lần Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho anh V, ông nhận thay và có giao lại cho anh V.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh V không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung với nhau, xét thấy mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn được, do đó Hội đồng xét xử xét yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ và phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về con chung: Xét trong thời gian vợ chồng không còn sống chung cháu V2 sống với chị L, cháu N sống với anh V, cuộc sống sinh hoạt, học tập của các cháu ổn định và trong quá trình Tòa án giải quyết cháu V2, sinh ngày 01/7/2013 cũng có nguyện vọng sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn nhau. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L: tiếp tục giao Phạm Quang V2, sinh ngày 01/7/2013 cho chị Lê Thị Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng, tiếp tục giao Phạm Bảo N, sinh ngày 05/6/2015 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con do bên trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu nên không xem xét.

[ 4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết

Về án phí: chị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Trúc L.

1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Trúc L được ly hôn với anh Phạm Thành V.

2/Về con chung: Giao cháu giao Phạm Quang V2, sinh ngày 01/7/2013 cho chị Lê Thị Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng. Giao Phạm Bảo N, sinh ngày 05/6/2015 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng.

Do bên trực tiếp nuôi dưỡng chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

3/Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4/ Về án phí: Chị Lê Thị Trúc L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M theo lai thu số No 0003095 ngày 02 tháng 10 năm 2020, chị L không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoạc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ